Sự ra khơi vào lộng trên những con thuyền để đánh bắt cá và biển đã cung cấp nguồn lợi chính, thiết yếu để phục vụ cuộc sống cho người dân, hay nói cách khác đánh bắt cá là nghề sản xuất chính của người dân vùng Cương Gián cổ. Từ buổi ban đầu đó dần dần nghề đánh cá vùng Cương Gián được phát triển thành một nghề khá nổi tiếng ở trong vùng, kể cả khu vực vùng duyên hải (về kinh nghiệm, sản lượng cá, sự đoàn kết trong nghề, những đội đánh cá có uy tín …).
Trong truyền thống đánh bắt của người dân địa phương, nghề đánh cá là chủ yếu và bao gồm 3 loại cơ bản sau:
Nghề đánh cá ngoài khơi: Phương tiện đánh cá ngoài khơi phải là thuyền gỗ có buồm, nghề này kèm theo nghề câu và thả bòng; dụng cụ để đánh bắt cá thường là lưới rút, đánh ở mực nước sâu từ 10 – 12 sải tay (khoảng 16 – 19m), có khi sâu đến 20 sải (khoảng 32m) và đánh mỗi năm một vụ. Vùng biển Cương Gián không có cửa biển sâu như cửa Sót, cửa Hội nên nghề đánh cá ngoài khơi không có điều kiện để đánh bắt xa bờ, nơi có các luồng cá lớn và do vậy ít khi được cá hồng, cá trích loại lớn …Tuy nhiên những loại cá như cá nục, cá trích nhỏ thì vẫn thường được với số lượng đáng kể. So với các vùng khác thì đánh cá ngoài khơi chưa phải là thế mạnh của vùng Cương Gián.
Nghề đánh cá lộng: Nghề đánh cá lộng thường dùng lưới mười, lưới chặng, lưới rê thu và câu. Mỗi lần ra lộng đều không đi đơn lẻ mà đi từng nhóm thuyền; mỗi nhóm có từng cặp thuyền một và có lúc lên đến 20 thuyền (tức là đi 10 cặp một lần). Trước đây, nghề lộng ở làng Cương Gián, so với các vùng khác thì hiệu quả, năng suất đánh bắt cá ở đây thường cao hơn. Đánh cá lộng bằng lưới mười đã trở thành nghề nổi tiếng trong vùng, lưới mười chuyên dùng đánh bắt cá theo bầy đàn như cá trích, cá bạc má, cá rọc, cá cơm, cá ve và moi tép. Khi phát hiện ra đàn cá, những cặp thuyền lao tới thả lưới vây cá và múc cá lên thuyền, rồi thuyền khác đến cứ như thế hết đàn cá đó mới thôi. Nghề đánh cá lộng đưa lại sản lượng cá rất cao và đây là một trong những thế mạnh của nghề đánh bắt cá ở Cương Gián.
Cùng với những kinh nghiệm trong quá trình đánh bắt ngoài lộng, cùng với nhu cầu thực tế về sản lượng đánh bắt cá yêu cầu ngày càng cao, người dân Cương Gián đã có những đầu tư và cải tiến đáng kể về phương tiện phục vụ cho việc đánh bắt. Cụ thể như trong thời gian đầu đánh cá lộng hình thành những đội thuyền buồm cánh én sau dần đổi sang thuyền buồm cánh dơi (gọi là buồm tàu). Loại thuyền buồm cánh dơi này đáp ứng được yêu cầu ra khơi của người dân vì nó bền hơn, chịu được sóng gió cấp độ lớn, gió xuôi chiều hay ngược chiều đều đi được. Thời điểm cao nhất của loại thuyền này có đến 40 – 50 chiếc thuyền như thế phục vụ cho nghề đánh bắt bằng lưới mười.
Nghề đánh bắt ven bờ: Bao gồm các loại lưới rùng cao, lưới sáu, thường các loại thuyền đánh bắt này chủ yếu đánh bắt bằng cách bủa lưới bằng thuyền loại nhỏ rồi kéo vào bờ. Cũng có cách đánh bắt cá gần bờ không cần dùng đến thuyền mà người dân thường lội xuống thả lưới rồi kéo vào bờ, đó gọi là nghề lưới con.
Sau khi kết thúc những chuyến đi, thuyền về cập bãi và các sản phẩm đánh bắt được thường được bán cho các chủ buôn trong làng và các làng lân cận, còn một ít thì bán cho những người dân trong làng để sử dụng trong gia đình. Nhưng thường thì các chủ thuyền đánh bắt lại là những người chế biến và buôn bán nước mắm nên sản phẩm đánh bắt thu về đều được đưa về xưởng của các ông chủ thuyền để chế biến nước mắm. Cũng có một số chủ thuyền đánh bắt không phải là người chế biến nước mắm thì sản phẩm đánh bắt thường được bán lại cho các chủ chế biến nước mắm hoặc những chủ buôn trong làng.
Nguyễn Đình Nhất
