Triều đại nhà Thương Ân bại vong, Vũ Vương lên ngôi lập nên triều đại nhà Chu đóng đô ở đất Cảo ( thuộc đất tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay) thì còn lại ba mươi nước lân bang phụ cận Vương Triều nhà Chu. Vùng đất lân bang này thuộc địa phận các tỉnh Thiểm Tây,Sơn Tây, Hà Bắc , An Huy, Sơn Đông, Hồ Bắc, Hồ Nam, Hà Nam thuộc Trung Quốc ngày nay. Trước kia thân phụ của Vũ Vương sống ở ngã ba của ba tỉnh Thiểm Tây , Cam Túc , Tứ Xuyên, vùng này gọi là Kỳ Xã như vậy Vũ Vương đã kéo theo nhiều họ tộc khác di cư từ phía tây sang phía đông lập nghiệp ở vùng châu thổ trung du ( Trung Nguyên) của sông Hoàng Hà, lập Nền xã mới ở Kinh đô Cảo. Từ lịch sử hình thành triều đại nhà Chu và cơ chế trị vì của nó cho ta thấy người Trung hoa di cư nhiều về phía đông, đông nam. Dân tộc Trung Hoa xưng nhận là dòng dõi của Viêm Đế- Hoàng Đế gọi tắt và Viêm Hoàng ( năm 2300 – 2200 trước công nguyên) nơi định cư cơ nghiệp của nó là Hoa Hạ. Hoa có nghã là tinh Hoa , phồn Hoa … Hạ có nghĩa là to lớn vĩ đại. Đất Hoa Hạ còn được gọi là Trung Nguyên, từ đó lâu ngày chuyển thể gọi là đất Trung Hoa và sau này là nước Trung Hoa. Đến cuối đời Tây Chu sang thời Đông Chu ( năm 800- 500 TCN) ngôn ngữ dân tộc Hoa Hạ mới được phát triển, xuất hiện các tác phẩm văn học như Lục Kinh tức : Kinh dịch, Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh nhạc, Kinh Xuân Thu. Phải đến khi Tần Thủy Hoàng ( 237- 206 TCN ) thiết lập triều đại nhà Tần thống nhất lãnh thổ Trung Hoa cổ, thực hiện chuyên chế hà khắc thì ngôn ngữ mới phát triển. Việc Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách, thoạt nghe có vẻ tàn khốc thô bạo, nhưng thực chất đó là một cuộc cách mạng văn học, từ đó ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ để bù đắp sự mất mát.
Ở Việt nam từ xưa khi có việc đến công đường khai báo người dân phải kê khai những vấn đề sau : Họ gì, tên gì, dân tộc gì…. Thí dụ ta thường khai : Bẩm quan lớn con họ Đặng, tên Lâm, dân tộc Kinh. Nhưng khi hỏi lại sao họ nhà người lại đặt tên họ là Đặng, cho đến thời nay chúng ta cũng không trả lời được vì sử sách không thấy ghi. Khi được hỏi dân tộc anh là dân tộc gì thì ta thường quen trả lời : Dạ thưa con là dân tộc Kinh. Nhưng hiểu thế nào là người Kinh thì đa số ú ớ không giải thích được. Ngay cả bộ sách “ Đại Viêt Sử Ký Toàn Thư” do Lê Văn Hưu biên soạn thời nhà Trần và sau này là Ngô Sĩ Liên, hai ông không hề đề cập đến khái niệm “ người Kinh, dân tộc Kinh “ chắc hai cụ cũng không biết nên không ghi vào sử sách hoặc bỏ quên. Thật ra với trình độ hiểu biết thời đó các cụ viết được bộ sử như vậy là đã tốt lắm rồi, mặc dù khi nghiên cứu kỹ chúng ta thấy các cụ viết mù mờ rằng “ Tổ phụ Hồng Bàng của người Việt Nam là “Thần Nông” ( Viêm Đế) khoảng năm 2879 TCN? Suy đoán như vậy thì Tổ Phụ của dân tộc Việt cũng là một trong số ba Tổ Phụ của người Hoa Hạ thời Tam Hoàng là : Toại Nhân, Phục Hy và Thần Nông. Cũng theo bộ ĐVSKTT viết ( trang 154, 155) ghi chép kỷ Tây Hán ( 110 TCN và 39 SCN) Tích quang là Thái Thú Giao chỉ, Nhâm Diên là Thái thú Cửu Chân hai vị Thái thú này có công gây dựng phong tục văn hóa văn minh cho đất Lĩnh Nam ( tên nước Việt thời hai bà trưng) chẳng hạn như Thái Thú Nhâm Diên tổ chức đám cưới cho 2000 người, tất cả số người này lấy tên họ Nhâm và con cháu họ cũng vậy. Viết sử như các cụ xưa làm cho nhiều người ngộ nhận người Việt là hậu tự của người Hán (?).
Người dịch bộ ĐVSKTT trong thời đại ngày nay là nhà sử học hàng đầu của Việt nam Nam, ông Phan Huy Lê và người cùng nghề Ngô Thế Long đã nghiên cứu loanh quanh thế nào mà lại cho rằng ba ông tiến sĩ thời Lê cháu ông Đặng Dung : Đặng Minh Khiêm, Đặng Tán, Đặng Tòng Củ là con ông Trần Du, hậu duệ của Hưng Đạo Đại Vương (?). Bởi vậy nghề viết sử nếu không nghiên cứu kỹ và không có các tư liệu để tham khảo dễ gây nên tổn thương về uy tín của mình. Trong một thời đại mà sự bảo thủ, sung bái , giáo điều trị vì thì chắc chắn không có được những trang sử minh bạch.
Người ta hay nói dân Bách Việt, vậy khái niệm này như thế nào ? Bách Việt là tên gọi tổng quát chỉ chung nhiều dân tộc Việt, như Đông Việt, Âu Việt, Tường Kha, Lạc Việt, Mân Việt, Dương Việt……định cư lập nghiệp thời cổ từ phía nam sông Trường Giang kéo xuống đất Giao Chỉ tức địa phận Bắc Bộ nước ta ngày nay. Dân Bách Việt là thành phần chủ yếu lập nên một quốc gia hùng mạnh đó là nước Kinh. Cuối thời Xuân Thu ( năm 585 TCN ) dân Bách Việt tách ra khỏi nước Kinh thành lập ra hai nước đó là Ngô và Việt. Nước Kinh rất nhiều nhân tài kiệt xuất thời Xuân Thu Chiến quốc trong lịch sử Trung Hoa cổ. Những nhân tài kiệt xuất này đều là những đại thần thuộc hạng Khai Quốc Công thần của cả ba nước Kinh, Ngô và Việt. Cả ba nước này đều có tham vọng Bắc Tiến chinh phục đất Trung Nguyên đã làm bá chủ thiên hạ. Kết cục là nước Việt ( 510-333 TCN ) tận diệt nước Ngô; nước Kinh tận diệt nước Việt và tận diệt nước Lỗ; nước Kinh còn tận diệt các nước Trần, Thái.. Đến năm 333 trước công nguyên nước Kinh thống nhất toàn cõi như thời đầu lập nghiệp. Nhưng sau đấy 110 năm bị nướcTần tận diệt vào năm 221 TCN. Năm 237 TCN Triệu Doanh Chính lên ngôi vua nước Tần lấy tước hiệu là Tần Thủy Hoàng với tham vọng truyền ngôi mãi mãi cho dòng dõi. Nước Kinh là nước thù nghịch, đối nghịch thâm căn cố đế đáng gờm với nước Tần trong lịch sử Trung hoa cổ đại. Việc tận diệt nước Kinh đến sạch “ Gốc rễ “ là mục tiêu chiến lược của Tần Thủy Hoàng. Đối tượng bị triệt hạ trước hết là những dòng họ trụ cột của nước Kinh. Theo ĐVSK toàn thư thì số người ở nước Kinh bị đi đày xa xứ đến Cửu Chân, Giao Chỉ, Nam Việt của Triệu Đà là năm mươi vạn người. Có tài liệu nói kể cả số lượng đi theo người đi đày lên đến hàng triệu người. Triệu người này là nguồn gốc dân tộc Kinh trên đất nước ta. Tiếng nói của dân tộc Kinh ở trên đất nước Việt Nam đã có từ thời tổ Phụ của họ, được lưu truyền trong quá trình giao thoa, hòa đồng trong tiếng nói cộng đồng của người dân Bách Việt, phong phú đa dạng và đã trở thành tiếng nói của người dân Việt Nam thời nay.
Tiếng Kinh ngày nay được gọi là tiếng Việt , có các âm tiết mà tiếng phổ thông của dân tộc Hoa không có và người Hoa rất đỗi nhọc nhằn để học, đó là các âm tiết : đ, nh, g, ng…hoặc âm có dấu ngã. Dân tộc Kinh thời Xuân Thu chiến quốc đã có chữ tượng hình khác biệt với chữ tượng hình của các nước khác cùng thời. Chữ viết của người Kinh thời ấy được Khuất Nguyên viết nên tác phẩm “ Sổ Từ”, là tác phẩm văn học nổi tiếng trên thế giới. Xét về giá trị nghệ thuật văn học lẫn giá trị nhân sinh, tác phẩm “ Sổ Từ “ còn xếp trên cả “ Lục Kinh”, trong đó có kinh xuân thu của Khổng Tử. Khuất Nguyên được thế giới vinh danh là một trong bốn vĩ nhân văn hóa lớn nhất thế giới.
Năm 1624 nhà truyền giáo người Pháp gốc Do Thái là Alecxandre de Rhodes ( 1593-1660 ) đã đến Phú Xuân ( Huế) , sau bốn tháng ông đã thông hiểu tiếng dân tộc Kinh, sau sáu tháng ông giảng đạo bằng tiếng dân tộc Kinh và dựng Giáo Đường ở Phú Xuân. Năm 1625 ông A. Rhodes ra Bắc bộ và sau đó ông đã sáng tạo ra chữ viết tượng thanh bằng hệ chưc cái La tinh làm quốc ngữ cho dân tộc Kinh ở Việt Nam. Năm 1651, sau 26 năm Giáo sĩ A. Rhodes đặt chân lên đất Hà Nội, chữ quốc ngữ của dân tộc Kinh được sử dụng viết sách giáo lý cho tín đồ Công Giáo… Đây là cuốn sách in đầu tiên chữ Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Chữ quốc ngữ của dân tộc Kinh được song hành cùng tiếng La tinh trong quyển sách giáo lý và được in tại thủ đô Roma của nước Italia. Vì đường lối cai trị bảo thủ của chế độ phong kiến Việt Nam rập theo tư tưởng sùng bái của “ Thiên triều Đại Hán”nên chữ quốc ngữ của dân tộc Kinh không được truyền bá rộng rãi, mãi đến năm 1920 hội truyền bá chữ quốc ngữ mới ra đời. Chỉ hơn chục năm sau đã làm đồng khởi sự canh tân nền giáo dục, phong trào sáng tác văn hóa nghệ thuật, phong trào hoạt động xã hội, chính trị tư tưởng…trên đất Việt Nam. Như vậy là cuộc cách mạng về ngôn ngữ của dân tộc Kinh đã được khai sáng từ giữa thế kỷ 17 ( 1650 ), sớm hơn một trăm năm so với cuộc cách mạng thành lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ ( 1776)
Tần Thủy Hoàng đã không thể tiêu diệt hết người Kinh, một dân tộc có truyền thống bất khuất đã được tổ tiên người Kinh vun đúc từ thời xa xưa.
Đặng Thảo



Anh Thảo Kính mến!
Em rất khâm phục sức đọc tư liệu của anh nhưng những Vấn đề đọc trong các sách sử liệu cũ còn đầy những mơ hồ và man trá vì nên sử học của ta thời kì Bắc thuộc đều do các nhà sử học Trung Hoa viết là chính. Em đọc ít Tư Mã Thiên người được ca ngợi là sử gia vĩ đại của thế giới vẫn thấy rằng họ sẽ viết sử theo thiên hướng có lợi cho tính bành trướng đại Hán nhằm xóa bỏ các dân tộc khác do đó nếu không có bản đồ gen người Việt từ thời tiền sử đến nay để so sánh với bản đồ gen của Người Hán mà căn cứ theo Hán sử và cả Việt sử xưa thì rất dễ xực phải loại sử trò hề. Đừng làm thế hệ trẻ lầm lạc vì những luận cứ văn bản chưa được kiểm chứng khoa học đầy đủ. Lúc nào ta cũng phải củng cố sử liệu theo hướng độc lập tự chủ như Nguyễn Trãi đã xác lập thì hay hơn để khỏi mắc vào vòng sử tuyên truyền hay sử vong nô…
Kính chúc anh năm mới dồi dào sức khỏe viết hay hơn nữa. Em Minh
Em rất khâm phục kho tư liệu sử bác đọc vì em ít đọc sử và những gì thuộc về sử em học được và nhớ nguyên văn sử lớp năm: Cách đây gần một vạn năm loài người đã xuất hiện trên đất Đông Dương rồi sau đó là các di chỉ núi đọ Thanh Hóa,Đông Sơn. Phù Nam, Tháp chàm….Đều khẳng định người Việt là số đông sông trên phần bắc Việt Nam rồi hình thành nên nước Việt ngày nay. Chỉ đơn giản vậy bao đời người Hán muốn bành trướng đồng hóa đều không xong. Sử của ta thời bắc thuộc hầu hết là do các nhà sử học người Trung Hoa ghi chép theo ý thức hệ Việt Nam là man di thuộc quốc của Trung Hoa.
Kết thúc thời kì bắc thuộc ta mới có những sử gia Việt Nam nhưng chép cũng dựa vào sử cũ thiếu tính nhất quán liên tục và dĩ nhiên ngụy tạo vì quyền lợi cầm quyền rất lớn. Đến nay sự từ thời nhà lí ta còn chưa biết chắc. Bằng chứng hùng hồn là Hoàng thành Thăng Long mà đến khi đào móng xây dựng mấy năm rồi ta mới phát hiện ra. Trong khi khảo cổ học nước ngoài người ta đã phát hiện ra thành Troi chôn vùi sâu trong quá khứ nhiều thế kỉ trước nữa. Môn sử nước nhà càng ngày càng ít người học nên thành tựu chỉ gói trong sử chính trị là chính
Nước Mỹ là hợp chủng quốc người ta tự hào về điều đó vì Mỹ là nước lớn. Việt Nam chúng ta em nhớ có thể chưa chính xác có 54 dân tộc anh em các triều đại phong kiến dù ích kỉ kiểu gì vẫn cố gắng cố kết các dân tộc anh em với dân tộc Việt để giữ nước và bản sắc dân tộc. Quá trình xâm lăng thôn tính của trung Hoa đã bị đánh bại và hàng binh được tha hoặc trốn về hoặc lẩn ở lại cùng với lớp dân Hán di cư sang vì nhiều lí do đều có xu hướng bị đồng hóa với người Việt mới tồn tại và sự pha trộn đó là tự nhiên như sự pha trộn của các dân tộc trên thế giới vào dân tộc chính hình thành nên những quốc gia nào đó…Tôi không nghĩ nhưng điều anh lấy từ sử do ai đó chép ra hay phát hiện ra là sai nhưng Trung Quốc ngày nay còn lén đem các xác chết xưa ra chôn lên Hoàng Sa để lấy căn cứ lịch sử ngụy tạo chủ quyền thì Việc Sự thời bắc thuộc viết trung thực kiểu gì cũng bảo vệ Trung Hoa thôi.
Người Pháp dạy sử còn định thủy tổ cho người Việt thuộc dòng máu Gô Loa.
Thế giới người ta lập bản đồ gen.Sử học của ta ngoài khoa nhân chủng học sẽ phải có môn tế bào để xác lập bản đồ gen của các xác chết từ thời tiền sử đên nay để so sanh với bản đồ gen của Trung hoa tương đương mà tìm sự khác và giống mà nói lên tiếng nói của Việt Nam. Ta tôn trọng lịch sự không có nghĩa chép lại sự cũ mà chưa soi rọi nó bằng các luận cứ khoa học hiện đại của thời đại.Việc đưa ra các sử liệu còn mơ hồ ít nhiều làm ảnh hưởng đến quyền lợi đất nước là không nên…Em Minh