CGO_“Riêng một làng nhỏ nằm dới chân Hồng Lĩnh ngoảnh ra biển đông là làng Cương Gián (Tổng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An) và cũng chỉ tính riêng dòng họ Nguyễn, từ đây ta đã có một sơ đồ lý thú. Từ Cương Gián đi Thượng Xá, huyện Chân Lộc , phủ Đức Quang di duệ ra Cương quốc công, khai quốc công thần của triều Lê: Nguyễn Xí (1379 – 1465); đi xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng, di duệ ra Nguyễn Thiến (Trạng nguyên khoa nhâm thìn – 1532); đi làng Thượng Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng di duệ ra nhà văn hoá lớn của dân tộc Nguyễn Trãi (1380 – 1442); đi lên làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại, trấn Kinh Bắc, di duệ ra ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1794), tác giả của Cung oán ngâm khúc…Rồi từ xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai về lại đất Nghi Xuân, phủ Đức Quang thì sinh hạ ra dòng họ Nguyễn Tiên điền, trong đó có Đại thi hào Nguyễn Du” (trích từ cuốn đất Nghệ đôi điều bạn nên biết – trang 101 – bài “Nơi phát tích của những tài năng” – Chu Trọng Huyến – NXB Nghệ An 2005)
Mảnh đất Cương Gián đã di duệ ra nhiều nhân kiệt ấy, có một thuở, gương mặt người vất vả
————***————–
Nỗi vất vả hằn lên đường làng.
Những con đường đất ôm lấy ngôi làng nhỏ thân yêu. Đường đi lên núi; đường ra bờ sông; đường chạy thẳng ra phía biển. Hoàng hôn, và bóng đêm, đám thanh niên tụ tập trên đường làng chuyện trò rôm rả. Lũ trẻ lấy đường làng ngõ xóm chơi trò đánh trận giả, rồng rắn. Vì thế, mọi con đường luôn huyên náo, ầm ĩ. Nhưng sự náo nhiệt kéo dài chẳng bao lâu. Không có điện, cả làng đi ngủ sớm. Trong màn khuya thanh vắng, chỉ còn lại ánh đèn pin lẻ loi của mấy chàng đi tán gái về muộn; tiếng chó sủa ngẫu hứng trong đêm.

Đường buổi trưa nóng bỏng bàn chân. Gió Lào thiêu đốt, tung lên những quầng bụi đỏ qua cồn cát đầu làng. Trưa đứng im, tiếng rao của người bán kem lạc trong nắng ú oà mệt mỏi. Tôi nằm trên chõng tre nghe âm thanh “pipò, pipò” của người bán kem vọng tới, vội vùng dậy tìm cho được một cái gì đó để mang ra đổi lấy quê kem. Chiếc dép cũ đứt quai; một chiếc vung bằng đồng bị sứt môi; cái can nhựa thủng đáy…đổi tuốt. Cô bán kem sà vào bóng râm, cầm trên tay món hàng ngắm nghía, định giá xem đàng đổi được mấy que kem. Rồi hạ một câu: “chiếc dép này nhỏ, đổi 2 cái nhé”. Tôi gật đầu. Cô bán hàng mở nắp, hơi lạnh toát ra ngao ngán, mang theo thứ mùi thơm lừng của sữa. Những que kem ngày ấy, sao mà ngon…tê tái. Chúng tôi không dám cắn. Chỉ dám mút từng tí một. Vừa mút vừa ngắm xem đã ăn hết đến đâu rồi, tay phải cầm que kem tay trái hứng bên dưới đề phòng kem chảy nước. Giọt nào rơi xuống bàn tay trái, đa vào mồm “xử lý” ngay. Tuyệt đối không được rơi xuống đất một giọt nào. Tiếng rao của ngời bán kem, âm thanh “pipò” quen thuộc, cả màu trắng đục lạnh tê người và hình dáng chiếc que nhỏ xíu, xinh xinh, đã đọng vào tuổi thơ miền cát trắng.
Tôi thẫn thờ một mình bên bãi biển. Một chú kiến lạc bầy; một chú ve cô đơn, tôi chăm chú quan sát và mải chơi với sinh vật bé bỏng ấy có khi cả buổi liền không biết chán. Tôi tưởng tượng bầy kiến vàng là một lũ giặc, tôi khiêu khích, tấn công nó xem kiến phản ứng như thế nào. Rồi múc nước xối xả, hình thành nên trận lụt, bầy kiến vàng chạy tán loạn. Thua đau. Dưới lớp cát trắng tinh là nền đất ẩm ướt và cứng. Chúng tôi dùng que thọc sâu xuống, đào thành những chiếc thuyền. Đắp cát hình con sóng. Thuyền sẽ vợt qua những con sóng cát ấy về với đại dương. Có hôm bố tôi nghỉ phép về thăm quê, mua cho tôi chiếc xe tăng bằng nhựa lên dây cót. Tôi tò mò với đồ chơi công nghiệp. Tôi dùng búa đập bể phần lốc máy, muốn xem vì sao chiếc xe tăng nhựa lại có thể chạy được mà chiếc thuyền bằng đất lại không. Dù sao, tôi vẫn thích chiếc thuyền lá tre, chiếc thuyền bằng đất hơn, vì nó gắn bó với tuổi thơ làng. Với những con thuyền quen thuộc ấy, tôi có thể hình dung ra bao nhiêu điều thú vị.
Rặng tre trước ngõ, sau vườn ngày càng tơi tốt. Rễ tre bám vào lòng đất, xâm lấn cả khu vườn. Lá tre rụng xuống thành lớp dày, toả mùi hương ngai ngái. Chiếc chõng tre đặt dưới tán tre, tôi nằm nghe âm thanh của những cây tre cọ vào nhau kẽo cà kẽo kẹt. Nghe gió thổi đồng quê xào xạc. Nhìn trời xanh trong và mây lững thững bay. Tiếng ve kêu trầm ngâm, khắc khoải. Tiếng sóng biển rì rầm. Tiếng ngời chuyện trò như tụng kinh giữa tra hè. Không gian ấy chuyển màu khi chiều buông. Tôi chạy bộ sang Song Phượng đón bà và o Liên đi chợ về. Dáng bà nội liêu xiêu quảy gánh hàng nặng trĩu trên vai. Con đường làng nhoè đi trong cát bụi. Ký ức ấy, không hiểu sao, đến tận bây giờ vẫn để lại trong tôi nhiều buồn tủi. Tôi muốn trở lại con đường làng hanh hao nỗi nhớ, ngồi một mình chờ đón người thân.
*-*-*
Đêm tuồng của làng Song Phượng.
Cương Gián có 3 làng: Song I (trung tâm); Song II (Song Phượng) và Song Nam. Song Phượng có đội tuồng giả cổ. Diễn viên chính là người dân trong làng: những diêm dân, nông dân, ngư dân. Thỉnh thoảng dân Song Phượng đem tuồng ra diễn cho cả xã Cương Gián xem. Sân khấu dựng trên bãi đất trống, đủ chỗ cho hàng trăm khán giả.
Làng tuồng cách trung tâm xã cha đầy 3 cây số. Hễ nghe loa thông báo có diễn tuồng là lũ trẻ chúng tôi quên cả bữa cơm chiều. Chập tối, từng đoàn người lũ lợt đi bộ băng qua cánh đồng, qua bãi cát hướng về phía Đá Bạc (địa danh trong bài hát Người đi xây hồ Kẻ gỗ: Kẻ Gỗ là đây bao năm đợi tháng chờ; đây vùng đá bạc đồi núi lô nhô) gần Song Phượng chờ xem tuồng. Khu vực này có nhiều đền thiêng, nghe nói lắm ma, người yếu bóng vía không dám đi một mình; họ tụ tập thành từng đoàn vừa đi vừa hát. Tôi lẽo đẽo theo sau o Lý, chú Nam. Vừa đi vừa chạy, ám ảnh bóng ma ông Thọ nhiều lần kể: ma cà rồng có cái lỡi dài nh ngọn lửa; ma trơi chập chờn; ma lợn thờng lẩn quất trên đồng làng đánh lừa người đi chợ; ma da hấu xếp thành trăm quả lăn lông lốc; ma đu mình trên cây; ma nấp trong bụi rậm. Nhiều hôm ma rào, sấm chớp liên miên, tôi rúc đầu vào nách ông Thọ nằm trên tấm “nệm” đan bằng rơm rùng mình nghe ông kể chuyện ma. Ông bảo, chính mắt ông từng thấy ma gái mặc áo trắng đứng khóc thút thít dưới cây dừa.
![]()
Những đêm tuồng diễn tả cảnh sinh hoạt của người dân miền biển; có khi diễn tích xa. Tôi thích vai vị tướng già mang gươm đi mở đất. Giọng nói oai hùng. Đôi hia có cái mũi nghếch cao như mũi thuyền bước từng bước oai phong lẫm liệt. Rồi vai A Bình Sơn lớn tiếng cười ha hả: “Ta đây là A Bình Sơn, đến cứu bạn A Li Kha”. “Quân bay đâu ?”. “Dạ”. Tiếng “dạ” ran lên hai bên cánh gà. Bỗng tướng già rơi bịch từ sân khấu cao gần 2m xuống bãi đất trống lún phún cỏ gà. Ông lọt vào lỗ thủng trên sân khấu, rơi tự do. Đám khán giả tưởng ông diễn thật, lăn ra vỗ bụng cười khoái chí.

Xem chiếu phim mới xôm. Không có rạp, đoàn chiếu phim lấy đền Thượng ở ngõ Ruồng làm “rạp”. Đền nằm giữa đường lớn, người ta phảI chặt tre chắn hai đầu đường; xung quanh là nhà dân nên chỉ cần rào thêm ít cành tre và bố trí đội quân canh phòng đám trai làng lậu vé là đủ. Nếu cho tôi đi theo, o Lý và chú Nam phải bế tôi lên vai suốt buổi chiếu bóng, mệt lắm. Vì thế, thỉnh thoảng chú và o lại bàn kế để tôi ở nhà. Bị lừa nhiều phen, tôi “đau” lắm.Ở nhà lúc mọi người rủ nhau đi xem phim hết mới thật buồn tẻ. Thế nên mỗi lúc làng có chiếu phim, tôi ăn vội vàng lùa bát cơm rồi bảo chú Nam: “Cháu vô nhà ông bà nội đây”. Chú Nam tưởng thật, mừng quýnh. Tôi đi thẳng ra ngõ, khuất sau bụi cây là chạy vòng ra đường cái “mai phục”. Anh em nhà chú Nam cơm nước xong, thủng thẳng giắt tăm đi lên ngõ Ruồng. Tôi bám theo. Đợi đến lúc chú Nam o Lý mua xong vé tôi đột ngột hiện ra, gọi toáng lên: “chú Nam !”. Chẳng có cách gì để đuổi đứa cháu nhỏ về nhà, chú Nam nhăn mặt một thoáng rồi bế phốc tôi lên, mắng yêu: “Cái thằng ni, răng bảo vô nhà nội rồi cơ mà”.
Khán giả chật ních. Chen lấn. Xô đẩy. ồn ào. Đám choai choai tranh thủ lúc đông người thò tay bóp vú mấy cô trong làng. Ngoằng cái đã biến mất đâu đó, khiến người đàn ông đứng phía sau lãnh trọn cú tát oan. Có cô đỏ mặt, im re. Chẳng hiểu vì xấu hổ hay…thích thầm. Mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Hết thời chiếu bóng ngõ Ruồng đoàn chiếu phim lại mang về chiếu ở chợ. Chợ Cương Gián khá rộng, nằm cạnh một dòng sông. Nhiều thanh niên không có tiền mua vé, cởi quần bơi qua sông, lên bờ đã thấy lừng lững một bác bảo vệ. Chạy. Chạy tán loạn. Có người trèo tường, rớt cái bịch, ngất lịm. Nằm im một lúc sẽ tỉnh lại, lồm cồm bò dậy và thoắt cái, đã băng qua đám cây dại, khuất trong biển người. Lực lượng canh phòng dù đông đến mấy cũng đành bó tay. Xua chỗ này, ầm ầm xuất hiện chỗ kia. Có trời mới vãn hồi đợc trật tự. Nhiều hôm khán giả chen lấn, xô nhau ngã ràn rạt, cố ngoi lên hàng đầu. Nếu nằm xuống, sẽ bị dẫm chết. Tôi ngoi lên, bám lấy những mái đầu cao lênh khênh. Khi dòng người chật như nêm thì không lo rơi xuống sân gạch nữa.
Phim tan. Đêm tàn. Tôi lững thững đi về xóm Cầu Đá. Bóng trăng chênh chếch, nghiêng nghiêng. Tiếng dế kêu khắc khoải. Tự bao giờ, lòng tôi đã phảng phất một nỗi buồn; một nỗi quạnh vắng, cô đơn.
*-*-*
Làng vất vả ngày ấy dáng người đi tủi phận. Nửa làng nghiêng về phía núi Hồng Lĩnh, làm nông. Nửa làng nghiêng ra biển đông, nghề chài lới. Một bộ phận nhỏ hơn buôn bán, dịch vụ. Vì thế, từ xa xưa đến nay xã Cương Gián luôn tồn tại, phát triển 3 nghề chính: Nông nghiệp, ngư nghiệp, thương mại. Dân cư cũng chia làm 3 bộ phận: Nông dân, ngư dân và tiểu thương.
Những người nông dân làm chủ ruộng lúa, nương khoai bên kia sông, gần chân núi Hồng Lĩnh. Được tắm mát nước sông đào, lúa khoai bốn mùa xanh tốt. Đời sống dân tình no ấm, hiền hoà. Những người đối mặt với biển cả mới cơ cực. Ngày nắng cũng như mưa; mùa hè chói chang hay mùa đông lạnh giá; kể cả khi đất trời tối tăm biển động sóng dữ, người ng dân Cương Gián vẫn phải đánh vật với biển. Có người thả lưới ngoài trùng khơi, không về; có gương mặt quanh năm lam lũ. Có người túng bấn, bỏ quê hương bản quán đi vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên; lên Qùi Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn (Nghệ An) khai khẩn đất hoang sinh cơ lập nghiệp. Ngày ấy đói nghèo, phải dứt áo bỏ làng mà đi, đau lắm.
Người Cương Gián, người Nghi Xuân, người Hà Tĩnh kiên cường. Có phải trong khó khăn gian khổ, đã rèn nên bản lĩnh sắt son ?.
Tôi nhìn lên đỉnh núi Hồng cao vợi. Dáng núi hình cánh chim bay lên.

