Lão bảo thằng cu Banh đứng phía sau lưng:
-Mẹ mi đã dậy chưa, nói với bà ấy hôm nay trời đẹp, con nước lên giờ này thì chắc ông Cu Thoại cho đàn em* gọi người đi lưới bây giờ.
Nói đoạn, lão nhảy xuống đất cầm lấy cái điếu cày, châm lửa kéo một hơi dài. Từ trong ngõ Giếng ăn thấp thoáng bóng cố Đỏ* Nùng đi cùng vài người,chuyện trò râm ran,tiếng chó sủa, tiếng những con lợn nái thả rong kêu ủn ỉn, tiếng bà cu Lành rao bán đỗ* buổi sáng mai, tất cả hòa vào làm thành bản hòa tấu quen thuộc của một làng chài đã bao đời nay chung sống với biển khơi.
Trời gần sáng rồi mà phía xa xa ngoài mép nước, các ông các bà và cả cánh thanh niên,thanh nữ vẫn ngồi “hóng gió” một cách tự nhiên, họ ngồi thành từng hàng dài ngoảnh đầu ra biển như thể đón chào bình minh đạng rạng .Những đàn lợn nái thả rông thong thả dùng bữa bằng những món ăn nóng hổi .Một vài chị có vẻ giữ ý nên ngồi chui vào dưới gầm thuyền trên tay cầm một nắm cật nứa dùng để vệ sinh. Có vài người còn ngồi sát vào nhau tâm sự. Không hiểu tập quán khó coi này có từ bao giờ mà mọi người cho là một sinh hoạt bình thường. Cánh Phường Phú từ bên kia rú Bờng sang bãi biển này làm ăn ,họ chăm chỉ tranh nhau với mấy chú lợn nái để hót những bãi phân về bán cho những người trồng thuốc lào.Nghe qua thì tưởng rằng mất vệ sinh,nhưng với sự vận động của cánh Phường Phú,công lao của những chú lợn nái đã làm cân bằng sinh thái ở đây. Sỡ dĩ làng này có nhiều lợn nái thả rong là cũng do cái tập quán tự do “hóng mát” như vậy.
Đám cây lòng bỏng mọc ngoằn ngoèo trên bãi cát ướt đẫm sương đêm.Phía cuối làng tiếng chày giã củ nâu mỗi lúc một to lên vang vọng buổi sáng bình minh.Những người dân chài vạm vỡ khiêng từng đòn lưới nặng có tới hàng tạ,họ từ từ cho từng đoạn lưới vào những cái máng to bằng gỗ đựng nước nâu đặc quánh .Công việc nhuộm lưới rất vất vả và phải có kỹ thuật cao thì nâu mới bám chặt vào từng mắt lưới,công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng công nghệ dệt nhuộm lưới tơ làng chài này đã có từ lâu đời.Không có sách vở nào ghi chép để làm tài liệu lưu truyền về kỹ thuật nhuộm lưới tơ nhưng phải nói đây là những phát minh vĩ đại khi mà thời đại Poolitinen chưa ra đời.Kỹ thuật dùng củ nâu làm thuốc nhuộm vải, nhuộm lưới không còn được sử dụng ở đồng bằng và đô thị nhưng ở miền rừng núi đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn sử dụng cho đến ngày nay.
Mụ Què vừa đi vừa ngáp ,tay xách cái túi lưới đựng mấy củ khoai lang và bù nước chè xanh đưa cho Lão Què chuẩn bị ra khơi .Rạng đông nhuộm đỏ trên khuôn mặt mụ,Lão Què trông thấy mặt mụ ta hình như bị sưng lên bởi trận đòn tối qua khi lão say rượu. Chốc lát trong lòng lão trào lên một thứ tình cảm khó tả và lão thấy thương mụ Què quá. Từ ngày lấy chồng ,Mụ chưa được bữa nào no,chưa có bữa cơm nào là không độn nửa phần khoai lang.Đẻ với lão được năm người con nên trông mụ ta già hơn những người cùng trang lứa.Mụ chẳng có lấy một cái áo,cái váy nào lành lặn.Giáp tết năm ngoái bà chị họ ở bên kia làng Cam lâm cho Mụ mảnh vải đũi để may cái mấn cập ( váy) diện tết. Mụ cất công vào tận Vũng Chùa lâý được mớ bùn đen đem về ngâm và nhuộm để mặc cho đẹp và bền.Thật chẳng may cho Mụ ta ,đêm hôm đó cái thằng trời chu đất triệt nào đã lấy trộm mất .Mụ tiếc quá,tiếc như mất một báu vật của đời mụ ,giá như mụ đừng nghe bà cháu Toàn bày cho cách phơi vải dưới sương để vải vừa bền vừa bóng thì đâu đến nỗi mất váy như bây giờ.Giá mà được làm lại từ đầu thì Mụ ta sẽ cất mảnh vải quý báu đó ở nơi kín đáo nhất,thậm chí Mụ luôn buộc nó vào người không khi nào rời ra.Mụ làm cho bọn trộm vặt không có chỗ hành nghề.Nhưng ôi tất cả đều đã muộn, chiếc váy đũi ,giấc mơ của cả cuộc đời Mụ sau một đêm đã biến thành mây khói. Thật là ,, chó cắn áo rách”.Sau vụ đó Mụ buồn mất cả tháng,nỗi buồn cứ bám lấy mụ,đi đâu mụ cũng kể lể về mảnh vải đũi bị mất,đến mức cái việc mụ mất váy cũng đến tai cụ Chánh,cụ Lý và các chức sắc trong làng.Lão Què thương Mụ ,nhưng lấy đâu ra tiền để mua váy mới cho Mụ.Nhớ lại ngày Mụ mới về nhà Lão, trong nhà chẳng có gì ngoài mấy cái nồi đất,một ít bát đĩa và cái cối đá nhỏ dùng để giã vừng.Gọi là nhà nhưng thực ra đấy chỉ là một túp lều cũ kỹ,cột bằng tre,mái lợp bằng rạ,nền nhà bằng đất nện.Hai vợ chồng Lão nằm trên chiếc chõng tre, khi mụ Què ở Cử ,giừơng chật lão thường trải chiếu ra nền nhà mà ngủ.Đàn muỗi vô tư “chăm sóc lão”.Ngoài sân nhà có một cái ang đựng nước bằng sành,nước dùng để ăn và phòng cháy. Nhớ đến cái năm Quý mùi(1823) khốn nạn vừa qua đã xảy ra vụ cháy nhà, nguyên nhân do nhà Cố Uân Việm vô ý để ngọn lửa bén vào vách nhà,ngọn lửa oan nghiệt cùng với gió Lào đã thiêu cháy gần như cả làng
.Thật là may, nhà Lão Què và nhà Cụ Chánh không hề hấn gì.Người ta kháo nhau, nhà Lão Què vì nhỏ quá
*Đàn em : Là người giúp việc cho chủ thuyền
*Cố đỏ :Người đàn ông mà vợ sinh cong gái đầu lòng thì tiếng địa phương gọi cố đỏ
nên gió tạt lửa không cháy tới nơi ,còn nhà Cụ Lớn to lừng lững xây bằng gach, có nhiều bể nước, lại có nhiều gia nô cảnh giới nên ngọn lửa dù có thù Cụ Lớn cũng không làm sao thiêu được cơ ngơi hoành tráng đó.
Hằng hà sa số những vì sao vận hành trong vũ trụ đã mờ dần khi vừng đông hé sáng. Mặt biển rì rầm, từng cánh buồm nâu căng gió ra khơi.Sóng biển lao xao như ôm bãi cát trắng mịn kéo dài tít tắp, xa xa ở phía nam là làng Động lúc ẩn lúc hiện dưới những làn sương bàng bạc lang thang.
2
Nhìn về hướng đông nam là mũi Lố kéo cái cổ dài như lắc la lắc lư bởi những đám mây vần vũ buổi sáng mai.Lão Què biết rất rành mũi Lố, bởi có lần thuyền của lão sang bên làng Đan Trạn đánh ruốc mắc phải bão nên dạt vào mũi Lố để ẩn gió.Mũi Lố có đền thờ Lê Khôi , là tướng quân của lê Lợi ,con đầu lòng của anh trai nhà vua đi chinh phục phương nam đánh quân Chiêm Thành khi về đến đây thì lâm bệnh.Ông mất tại đây được dân làng chài hai bên bờ cửa Sót mai táng,để nhớ tới công lao của Tướng quân nhân dân trong vùng đã lập đền thờ, quanh năm bốn mùa cung tế và tôn ông là Thành Hoàng Làng.Đền thờ Ông linh thiêng nhất trong vùng.Trước khi ra khơi đánh cá,ngày rằm mồng một dân tứ phương về cúng lễ.Hàng năm vào ngày rằm tháng giêng nhân dân tổ chức lễ hội,cúng tế linh đình.Những ngày đó các làng tổ chức chèo đua.Những con thuyền độc mộc được sơn son thiếp vàng do những người thợ mộc làng Đổ Yên bên Nha Nghi khéo tay đụ đẽo từ những cây gỗ re to hai người ôm không xuể.Khi đua thuyền, người ta chọn những chàng trai lực lưỡng,to khỏe trong những bộ quần áo màu vàng óng với cái mũ màu đỏ viền xanh trông thật đẹp mắt. Cánh đàn ông làng Đan Trạn năm nào cũng thắng cuộc,làng cửa sót năm nào cũng thua, mặc dù trên bờ phải có tới hàng trăm phụ nữ trẻ đẹp măc những chiếc áo tứ thân màu nâu sòng quấn ngang lưng hông những chiếc bao tượng màu mỡ gà óng ánh được đệt bằng tơ tằm của những thợ dệt làng Đùng Môn khéo tay,đứng trên bờ hò hét động viên đến khản cả cổ.
Phía hơi chếch hướng đông nằm cô đơn giữa biển khơi là đảo Quỳnh Nhai thường gọi là hòn mắt .Tương truyền ngày xưa khi Công chúa Diệu Thiện, con gái thứ ba của Vua Sở Trang vương bên Tàu vượt biển bị bão đánh chìm thuyền,Công Chúa được bọn cá heo cứu sống đưa vào trú ở hòn Mắt.Sau ngày lặng gió,trời quang mây tạnh cũng đàn cá heo ấy đưa Công chúa vào bờ. Công chúa đã băng qua làng Kẻ Ải ,vươt rào Mỹ Dương ,sau hai ngày đêm vất vả nàng mới trèo lên đến đỉnh Ngàn Hống.Nàng đã lập am Tu hành, ngày nay gọi là chùa Hương Tích . Chuyện kể rằng:”Vua Sở Trang vương chỉ sinh được ba người con gái là Diệu An,Diệu Duyên và Diệu Thiện.Khi trưởng thành hai người chị theo ý vua cha,đều lấy chồng làm quan trong triều.Vua muốn gả người con gái út Diệu Thiện cho một quan võ để làm chỗ dựa khi già yếu.Thấy hắn là kẻ độc ác nàng không tuân theo,nên bị vua cha ruồng rẫy,phẫn chí nàng bỏ ra ở chùa.Viên quan võ kia được vua sai đi trừng trị nàng.Hắn phóng hỏa đốt chùa.Nhưng Diệu Thiện cùng các tăng ni phật tử đều được Phật che chở cứu thoát. Phật lại sai Bạch Hổ đưa nàng trốn sang nước Việt Thường.Cuộc hành trình của nàng gian nan và vất vả,sau nhiều sự trợ giúp nàng đã đến đỉnh núi cao của dãy Ngàn Hống dựng Am tu hành.Chẳng bao lâu nàng nổi tiếng là vị ni cô từ bi bác ái…Giữa lúc ấy Trang vương bị bệnh nặng.Thầy thuốc bảo phải có tròng mắt và bàn tay của một người con gái tự nguyện hiến dâng lên mới chữa khỏi.Hai con gái lớn không ai chịu hy sinh.Nghe tiếng ni cô ở Việt Thường,vua liền sai người sang cầu cứu.Diệu Thiện biết cha mình là kẻ độc ác,nhưng do độ lượng,từ bi,sẵn sàng cứu vớt chúng sinh,nàng vui lòng móc mắt,chặt cánh tay mình dâng cho cha.Trang vương được thuốc, khỏi bệnh,sai người sang Ngàn Hống tạ ơn,mới biết người cứu mình chính là Diệu Thiện,cô gái út đã từng bị vua cha ruồng bỏ.”
3
Thân sinh ra Lão Què là người họ Nguyễn làng Bến Trại, hậu duệ của Ngài Nguyễn Khai, bác ruột Nguyễn Xí, Khai Quốc Công Thần thời Lê .Ông nội Nguyễn Xí làm nghề muối ở làng Yên Ninh .Bố Nguyễn Xí là Nguyễn Hợp mất lúc ông mới tám tuổi.Năm lên chín tuổi Ông theo anh cả là Nguyễn Biện dùng thuyền chở nước mắm ra bán tận đất Lam Sơn Thanh Hóa.Ở đây ông gặp vị đầu mục Lê Lợi và xin làm con nuôi.Lê Lợi là một con người nổi tiếng nhân nghĩa.Sau mười ba năm theo hầu Lê Lợi,năm Mậu Tuất Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa,ông gia nhập nghĩa quân và được cử quản đội quân Thiêt đô.Khi lui vào Nghệ An xây dựng lực lượng ông đã cầm quân đánh tan giặc Minh ở Bồ Đằng, Trà Lân, Khả Lưu, Bồ ải,Triều Khẩu….Ông được phong thượng tướng quân, kéo quân ra Bắc phối hợp với các nghĩa sĩ ở đó dánh quân Minh tan tác.Ông vào rước Lê Lợi ra dinh Bồ Đề để chỉ huy cuộc kháng chiến thắng lợi.
Năm Mậu thân (1428),Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, hiệu Thuận Thiên,Ông được phong Long Hổ Thượng tướng quân, suy tôn “Bảo chính công thần”.Được xếp vào hàng thứ năm “Công thần Khai quốc”.Ông phò đến bốn đời vua Lê: Lê Thái Tổ,Lê Thái Tông,Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông.Cảm phục về Ông ,vua Lê Thái Tông đã cho xây đền thờ ông ở quê hương .Nguyễn Xí khi sống làm tướng, khi chết thành Thần.
Lão Què rất tự hào về tổ tiên mình, Lão kể vanh vách về cụ tổ Nguyễn Xí với lòng đầy tự hào.Có lần lão cu Lới ở phía sau nhà lão Què bịa chuyện rằng cụ Chánh Tổng định cho bọn đầu đinh ở làng Kẻ Ải phá cái cổng Tam Quan đền thờ Cụ Nguyễn Xí để lấy gạch xây cống ở đầu đê làng Bến Trại. Nghe thấy vậy lão tức quá chạy đến nhà Cụ Chánh chửi bới om sòm, thật may hôm ấy cả nhà Cụ Chánh về bên làng Cổ Đạm ăn giỗ.Tuy vậy hôm sau Cụ Chánh cũng hay tin lão Què đến nhà chửi bậy.Hôm đó Cụ Chánh tức lắm, nhưng vốn là chức sắc cao trong làng,vả lại Cụ là người có học vấn nên chỉ cho gọi lão Què lên nhà để răn đe.
Cụ Chánh mặc bộ quần áo lụa màu vàng mỡ gà, ngồi nhai trầu ở phòng khách chính giữa gian bảy.Cụ thong thả nhổ bãi nước trầu vào ống nhổ bằng đồng thau vàng óng .Chiếc sập gụ và cái tủ chè kê ngay ngắn giữa phòng khách, nó được mua từ Nam Định do những người buôn thuyền mành mang về. Bộ Sa lông đời Minh với lưng tựa hình bán nguyệt gồm bốn cái đi theo cái bàn hình chữ nhật chân lùn màu nâu .Nghe nói đồ dùng trong nhà Cụ toàn là đồ cổ đắt tiền.Bức hoành phi sơn son thiếp vàng đề ba chữ Võ Bị Gia, ý nói truyền thống của gia đình nhà Cụ là Võ nghệ,Cụ là con nhà võ. Hai câu đối khắc trên hai tấm gỗ đinh hương tỏa ra mùi thơm ngan ngát với những dòng chữ Nho hình triện sang trọng. Duy chỉ có con chó màu đen tuyền có đôi bàn chân trước điểm huyêt đề, đôi bàn chân sau in chữ Túc bẩm sinh là mới , Con chó quý được Cụ Hường Tiên Điền Tặng khi Cụ Chánh lấy thêm bà vợ ba ngươì làng Tùng Ảnh con Cụ Cửu Huân.Cụ đi đi lại lại trong phòng khách,thỉnh thoảng dừng lại ngắm nhìn bức tranh con thuyền nhỏ có mái che lặng lẽ ngược dòng sông, có lẽ vì có câu chuyện thằng Què hỗn láo chửi Cụ nên một ký ức nào đó đã đưa cụ về với con thuyền và dòng nước xanh trong kia.Hình như do mải mê với những dòng chảy trong ký ức mà Cụ thoáng quên đi Lão Què đang chầu chực ngoài cửa.Cụ bước ra đầu hiên nhà và đưa mắt cho thằng Seo cho gọi lão Què vào.
Đặng Văn Thảo ( còn nữa)…

