Tôi dán mắt vào bức ảnh được phóng to treo ngay trước đầu giường cu Tăng, đó là bức ảnh cái “Bu Ga” bằng tre được gắn trong cái khung cũng bằng tre. Cu Tăng vui vẻ, ân cần hỏi tôi đã ăn cơm chưa, nếu tôi trả lời chưa ăn chắc hắn cũng chẳng có tiền đãi tôi vì bây giờ mới là ngày hai mươi bảy, chưa đến kỳ lĩnh lương. Vốn người hay lo xa với lại lương bổng chẳng được bao nhiêu, từ Hà nội về tôi đã mang sẵn một mớ lương khô và bánh mỳ sấy lò phòng khi đi đường đói bụng. Thời hậu chiến tranh cái gì cũng thiếu Bức ảnh làm tôi tò mò vì cu Tăng không phải là người ham mê nghệ thuật. Tôi lần mở gói bánh mỳ khô không khốc còn cu Tăng lặng lẽ đi pha nước chè. Tôi nói, ở Hà nội mình có nhiều ảnh đẹp lắm, như bức tranh nụ cười nửa vời của Lazocon, bức đêm trắng Xanhpetecbua….nhưng khi về đây nhìn bức “ Bu Ga” của bạn mình thấy đẹp quá, chưa ai khai thác được vẻ đẹp đời thường như bạn, hóa ra bạn cũng là người sưu tầm nghệ thuật. Cu Tăng cười, hắn ôn tồn nói, mình không hiểu biết nhiều về nghệ thuật, lĩnh vực ấy là lề trái trên con đường đi của cuộc đời mình. Cái Bu Ga trong bức ảnh kia là một kỷ niệm đắng cay, bạn có biết không, chính nó đã có lần chia sẻ cùng mình khi hoạn nạn. Thượng đế ban cho con người cái vui, cái buồn, cuộc sống giàu sang, nghèo hèn, Có người tiền nhiều như quân Nguyên, tiền từ dự án, tiền từ đất đai, tiền hoa hồng phần trăm của các công trình, hợp đồng kinh tế, tiền mãi lộ, bán chức bán quyền đủ kiểu, nhưng cũng có người sống kiếp nghèo khổ . suốt đời làm nghề đan “Bu Ga” mà chẳng mấy khi được ăn thịt Ga, Thằng cu Tăng lại trầm ngâm nói: Hà nội là cái nôi văn hóa, người yêu nghệ thuật thì một vật vô tri cũng có thể làm nên những tác phẩm có giá, mấy cái gốc sắn chất đầy tủ nhà bạn đối với mình chỉ là mớ củi khô. Cũng phải thôi vì cái nghề của mình suốt ngày chỉ ngồi soạn thảo nghị quyết, giải quyết những mâu thuẫn trong trí tưởng tưởng, với tham vọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người bằng các kế sách trên bàn giấy. Làm cái chân tham mưu chính trị, nhai đi nhai lại cái mớ hỗn độn đó, khô khan hết chỗ nói. Đột nhiên cu Tăng hỏi : Mà này, ở Hà nội ông có biết chùa một cột xây từ bao giờ không, ở cơ quan mình họ đố nhau mà chưa có ai trả lời được. Mình dốt đặc món này, mình chỉ nhớ duy nhất cha mình kể nhà cố đỏ Nguyếch ngõ giếng ăn được xây từ khi vua Bảo Đại về thăm làng ta. Bảo Đại là vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn. Ông về làng ta là để kiểm tra đê điều dưới làng Bến Trại. Cứ xét theo hành vi ấy thì Hoàng Đế là người rất chăm lo đến Quốc Thái dân an. Thế mà có đồng chí chúng ta lại gọi nhà vua bằng “Thằng”. Câu chuyện của cu Tăng cứ lan man, cái chùa một cột và cái nhà cố đỏ Nguyếch có liên quan gì với nhau đâu, Rồi cái việc gọi Vua bằng thằng nữa.
Tôi nói với Tăng, chùa một cột là một di tích lịch sử có hạng. Theo Đại Việt Sử ký toàn Thư, Chùa được xây dựng vào năm kỷ sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1 ( năm 1049) đời vua Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông (1028-1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm trên tòa sen đưa tay đặt vua lên tòa. Tỉnh giấc, vua thấy lòng mình bàng hoàng như là chuyện thật nên vào buổi thiết triều vua đem việc ấy nói với quần thần, trong đó có các Thiền sư quyền cao chức trọng tham dự.
Nghe rõ sự việc , Thiền sư Tuệ khuyên vua xây chùa để báo ơn Phật, theo đúng mô hình như giấc chiêm bao đã thấy. Do đó, chùa có mô hình như một tòa hoa sen, được dựng lên cột đá giữa ao, như đã thấy trong chiêm bao . Khi chùa được khánh thành , các Thiền sư chay đàn, tụng kinh cầu cho quốc thái dân an và lấy tên là chùa Diên Hựu ( kéo dài cõi phúc). Vì có mô hình “một cột” nổi trên hồ sen nên có tên gọi là chùa một cột.
Theo văn bia dựng năm cảnh trị 3 do hòa thượng Lê Tất Đạt ghi : “dụng một cột đá giữa hồ, trên cột xây một tòa lầu ngọc trong đó đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng .Khí đất chung đúc anh linh, cầu gì được nấy. Đến khi Triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, cũng noi theo lối cũ, nên càng linh thiêng. Khi Lý Thánh Tông chưa có hoàng tử, thường đến đó cầu nguyện. một đêm nằm mộng thấy Phật Quan âm mời lên lầu ngồi ,Ôm một đứa bé đặt vào lòng vua.Tháng đó Hoàng hậu có mang Hoàng Tử. Vua bèn sửa thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên phải chùa một cột để mở rộng việc thờ cúng…”
Đời Lý Nhân Tông, năm Anh Vũ Chiêu Thánh 5 (1080) vua cho đúc chuông lớn để treo ở chùa gọi là “Giác Thế Chung” ( chuông thức tỉnh người đời) và một tòa phương đình bằng đá xanh cao 8 trượng, nhưng vì chuông quá nặng không sao treo lên được phải để dưới đất nên đánh không kêu. Chỗ ruộng để chuông thấp nên có nhiều rùa đến ở ,được gọi lạ ruộng quy điền. Đến đời sau khi quân Minh bị bao vây ở Đông Quan , hết quân khí , Vương Thông đã cho phá quả chuông để đúc súng đạn.Chùa một cột là di tích biểu tượng cho nền văn hóa Việt. Cu Tăng phàn nàn, chuyện nghe hay nhưng dài quá sao mà nhớ hết. Nếu ngồi học thuộc lòng thì chẳng khác gì câu chuyện “ Rắn là một loài bò…..sát không chân”. Tôi sực nhớ có một vĩ nhân đã nói, đừng hiểu giá trị chùa một cột như là sự độc tôn chịu đựng sức nặng của một tòa nhà phía trên mà nó là một công trình kiến trúc vĩ đại về tư tưởng con người ở thời Lý. Bây giờ có một nhà kiến trúc nào đó có ý tưởng lại xây một tòa nhà vĩ đại mà chỉ dùng một cái cột để đỡ thì đó là không tưởng hay là lối suy nghĩ duy ý chí.
Ngoài sân, trời đã đổ cơn mưa, tiết thu lành lạnh, giấc ngủ bắt đầu kéo về. Ngủ sớm và thường thức dậy lúc gà gáy lần đầu tiên là thói quen của tôi, thế mà hôm nay tôi thức để hỏi cu Tăng về bức ảnh cái “Bu Ga” treo trên tường kia . Với tôi, cu Tăng không có cái gì phải bí mật, hắn thận trọng khép chặt cánh cửa và bắt đầu kể tại sao lại treo bức ảnh cái “Bu Ga”
Cu Tăng bắt đầu với cái giọng Cương gián: Mình và Thư yêu nhau đã mấy mùa sim Bình Thọ. Thư là con một gia đình khá giả, cha người bên Nghi Lộc sang đây làm nghề bốc thuốc bắc, mệ là dân buôn thuốc lào chợ Si . Thuốc lào nhà Thư ngon nổi tiếng trong vùng. Có nhiều chàng trai muốn làm quen với Thư, khi đến nhà ngồi nhâm nhi hết cả đòn thuốc lào ( Thuốc lào vê thành từng điếu bày kín cả mặt một chiếc ghế ngồi). Cha Thư là người bắt mạch giỏi nhất vùng Thanh Nghệ, có lần, một chị tên là Nương tận tỉnh Thanh vào khám bệnh, ông cụ thong thả đặt ngón tay trỏ lên thành mạch bệnh nhân, hình như cụ nghe được những diễn biến trong cơ thể con người. Cụ phán rằng :” kinh thì nguyệt bất đều, tháng có tháng không, đau hai bên hông rụng rời hai đầu trục cúi. Nhức mỏi khắp ngài, đụng vô chỗ mô cũng tê tê . Chị đã có chồng chưa, lấy đỡ thày vài thang”. Vì ông cụ nói giọng vùng Nghi Lộc cho nên đã gây nên sự hiểu nhầm, chị Nương tưởng thày bảo là “ ….lấy đỡ thày vài tháng” nên đỏ mặt, vội vàng ra về và nói với theo: dạ thưa thày em đã lấy chồng rồi ạ, vả lại quê nhà con đã lấy chồng thì lấy cả đời chứ chẳng ai lấy tạm vài tháng cả. Cu Tăng mới kể đến đây thì dừng lại, đôi mắt của hắn trông như chiếc đấu đong đỗ, sâu mà to, chứa đựng điều chi mà thấy buồn quá. Thế là câu chuyện cái “ Bu Ga” lại bỏ dở như cái diều đứt dây. Sáng hôm sau tôi dậy sớm, đi bộ về quê.
Mùa thu bắt dầu về rồi mà ánh mặt trời vẫn quá chói chang, từng đàn mẹ con rù rù nhí nhảnh tìm mồi trên bãi cát dài ven lạch Đồng kèn. Xóm chài đìu hiu, mặt trời ngủ giữa chiều, trầm mặc ẩn hiện dưới rặng phi lao đung đưa trước gió. Mấy chú chào mào cãi nhau với bọn xắc xắc trong bụi tra bà cu Chất. Trưa nay cả nhà bà xum vầy bên nồi khoai Lào vừa luộc còn nóng ran, mọi người vừa ăn vừa kể chuyện trên trời dưới biển, chuyện con bé bên làng Yêm Điềm chửa hoang, chuyện thàng cu Ba ăn trộm cả đàn gà người ta rồi đem ra ngoài bờ biển làm thịt trong Lều lái, vô ý làm cháy cả vàng lái rùng….Câu chuyện vui vẻ đến khi cạu khoai và bát cà cũng vừa hết.
Thư con ông bà bán tiệm thuốc bắc bước vào tuổi mười tám, người dong dỏng cao,có đôi mắt hạt huyền người đẹp trong tranh cũng còn kém hẳn, mỗi khi cười sự tinh tú duyên dáng và nhân hậu của người phụ nữ như dồn hết cả cho em. Bóng dài thướt tha mỗi lần em ra ao cất vó tép riu. Có một ông giáo trong làng tuổi đã bạc tứ tuần sắp có cháu ngoại mà vẫn say đắm trong bài thơ tình tặng em :
Nắng chiều xuyên ánh mắt
Cháu vê tròn bím tóc
Đứng cạnh bờ ao
Cháu nghĩ gì nào hay khát khao chờ mùa xuân đến
Chiều mênh mang mây bay gió quyện
Nước ao nhà soi bóng cháu tôi
Có những chiều nhẹ bước ven đồi
Cháu sang bờ này cất vó
Cả thân hình nho nhỏ
Soi bóng ao nhà tôi
Có ai hỏi rằng ai có bồi hồi
Khi cháu tôi cười trong ánh mắt
Có ai hỏi trên đời này
Cháu tôi yêu gì nhất.
Thời gian trôi nhanh trên rặng phi lao trước nhà, Thư thi đỗ đại học khi chiến tranh vừa nổ ra, năm đó tàu bay Mỹ không ngày nào vắng những tràng bom dội về trên đường số một. Bọn Mỹ tàn ác rải bom đến những nơi yên bình nhất, cái cầu Chua bé xíu trên làng Cổ Đạm chúng cũng ném bom cho đến sập. Xứ hát ả đào thơ mộng này làm gì đe dọa đến an ninh nước Mỹ ở bên kia bán cầu? Mọi sự vô lý trên đời này nhiều khi được nhào nặn thành cái có lý.
Thư lên đường ra Bắc, ngày tựu trường của thời sinh viên trong chiến tranh không được mơ mộng như sách vở nói. Sau bao nhiêu ngày ngồi chen chúc trên chiếc xe tải chở người,Thư cũng tới được Hà nội, cảm giác lạ lẫm đầu tiên của Thư là có rất nhiều cái nhà chồng lên nhau, rồi đến cảnh mấy ông cụ già gò lưng đạp xích lô mà khách ngồi bên trên là những chàng trai khỏe mạnh ôm chặt những cô gái mặt bự son phấn lẳng lơ. Rồi nhiều cái lạ chốn thị thành mà Thư chưa bao giờ thấy ở quê mình.
Ngày Thư đi học cũng là ngày Tăng nhập ngũ, họ chia tay nhau bên ni cầu rạo và hẹn ngày gặp lại trên quê hương yêu dấu. Đôi mắt thăm thẳm của Thư mơ màng lướt qua trên đỉnh núi Hồng, những áng mây bàng bạc điểm tô thêm vẻ đẹp mênh mang trên rặng cây khi hoàng hôn về phủ kín rào Mỹ Dương. Bàn tay Tăng nắm chặt tay Thư truyền vào bạn mình tình yêu đầu tiên. Thư như trong cơn mê, nàng chưa có cảm giác này bao giờ. Rồi bỗng dưng Thư buông tay khỏi bàn tay ấm áp của bạn mình. Thư run run nói với Tăng, cuộc đời hãy còn phía trước, em mong rằng ngày mai tươi sáng sẽ đến với chúng ta, rồi tận trong tâm khảm của mình, Thư nghĩ rằng, chiến tranh còn kéo dài, không biết đến bao giờ gặp lại Tăng, mỗi người một con đường, đường ai nấy đi, hai người hai lối chỉ biết thương nhau mà thôi. Có một nhà hiền triết nào đó đã nói : “không ai có thể giam cầm được những làn mây, trói buộc được ánh sáng mặt trời ”, sự thủy chung, đợi chờ của lứa đôi sẽ kéo dài được bao lâu. Đó là những câu hỏi, câu trả lời dành cho tuổi xuân xanh. Có những đêm đông lạnh giá, một mình Thư nằm nghe bản tình ca buồn đến não ruột : “ …Anh ơi thời gian đi không về cùng lứa đôi ta, bên dòng sông xưa em ngóng trông phương trời xa núi cao mịt mờ..”….
Bẵng đi nhiều năm, chiến tranh kết thúc rồi mà Tăng vẫn chưa gặp lại Thư. Nghe nói Thư đã đi xây dựng gia đình và hiện đang sống ở một vùng ven đô. Còn Tăng vẫn là một chàng trai cô đơn chưa tìm được nửa bên kia của cuộc đời. Hôm ấy, một chiều mùa đông lạnh giá Tăng quyết định đến thăm Thư sau khi đã có địa chỉ, sau một ngày đi đường Tăng tìm đến một căn nhà nhỏ nằm ven lối xóm. Vì không được báo trước nên khi nhìn thấy Tăng ngoài cổng, Thư bàng hoàng xúc động, đến nỗi làm rơi cả quyển sách trên tay. Cũng thật may mắn là chồng Thư vừa về cơ quan cách đây gần hai giờ đồng hồ, còn cô con gái cưng đã được bà ngoại đón về từ tối qua. Câu chuyện nóng dần lên bên bát nước chè xanh đang bốc hơi. Thư vẫn đẹp như thời con gái. Nghe kể đến đoạn trước lúc làm lễ cưới, Thư đã thắp một nén nhang khấn giữa đất trời, cầu mong cho Tăng bình yên trở về thì Tăng ngồi im như bức tượng. Trời đã về khuya, Tăng định chia tay Thư để về quán trọ thì ngoài cổng có tiếng đàn ông kêu mở cửa. Thư như chết lặng vì biết chồng mình quay về. Trong lúc hoảng loạn Thư kéo tay Tăng đi ra phía sau nhà, và bảo Tăng ngội sụp xuống trong chiếc chuồng lợn. Vẫn thấy như còn trống trải, Thư lấy thêm chiếc lồng gà đặt lên đầu Tăng. Nhanh như cắt Thư mở cổng và hỏi chồng sao lại quay về giờ này. Chồng Thư vừa giải thích vừa huýt sáo bài :” Nhổ neo ra khơi đêm nay khi trăng mọc, tàu anh sẽ nhổ neo ra khơi, tạm biệt em yêu vẫy chào thành phố càng thân yêu, em ơi chớ hỏi anh nhiều , em đừng hỏi rằng vì sao anh ra đi…” anh chàng tụt giày và ôm vợ chưa đầy một dây đã ngáy khò khò. Còn Tăng ngồi trong chuồng lợn với chiếc Bu Ga trên đầu. Khi đã lấy lại bình tĩnh, Tăng mới thấy cuộc đời thật trớ trêu. Là lính trinh sát ở chiến trường, anh quen với việc ngụy trang, nhưng quả thật tác chiến không thể nhanh bằng Thư. Đợi cho chồng ngủ say, Thư mở cửa sau nói nhỏ với Tăng điều gì đó, trước khi gồng mình trèo tường ra ngoài, Tăng còn kịp nhìn theo cái bóng của người mình yêu khuất dần sau cánh cửa. Lại một mùa Vu lan nữa trôi qua. Bức ảnh chiếc Bu Ga vẫn còn bí mật cho đến tận bây giờ.
Đặng Văn Thảo
* Cái Bu Ga tức cái lồng gà, thường được dùng để nhốt gà, vịt được làm đan bằng tre, nứa.

” Cái Bu Ga ” đọc thật lôi cuốn nhưng xin TG cho biết năm 1041 cột của chùa Một Cột được làm bằng chất liiệu gì ạ ? Gỗ lim hay đá mà hiện bây giờ cháu thấy cột của chùa 100 % bê tông xi măng . Chùa Một Cột là hiện vật bảo tàng nổi tiếng của Việt Nam ta mà họ làm đại cái cột bê tông thì thật ẩu , không biết ban Lịch Sử họ nghĩ gì .