LÀNG CƯƠNG GIÁN QUÊ HƯƠNG TÔI
PHẦN I : MỘT THOÁNG LỊCH SỬ
ĐỜI HÙNG VƯƠNG XƯA VÀ AN DƯƠNG VƯƠNG
Thời xa xưa, Xứ Nghệ thuộc đất Việt Thường Sau đó trở thành 2 trong 15 bộ của nước Văn Lang có tên: bộ Hoài Hoan bộ Cửu Đức.
Bộ Hoài Hoan là tên gọi vùng đất tương đương với Diễn Châu khi xưa, ở phía bắc tỉnh Nghệ An. Bộ Cửu Đức là tên gọi vùng đất tương đương với phần nam của tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh hiện nay, tức đất Hoan Châu thời nhà Đường.
THỜI KỲ BẮC THUỘC
Nhà Hán: gọi là huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân . Nhà Đông Ngô: tách ra khỏi quận Cửu Chân, đặt làm quận Cửu Đức. Nhà Tấn, nhà Lưu Tống vẫn theo như nhà Ngô. Nhà Lương (năm 502-557): Chia đặt làm Đức Châu, Lỵ Châu và Minh Châu. Nhà Tùy: Năm Khai Hoàng thứ 18 (598) đổi Đức Châu làm Hoan Châu, Lỵ Châu làm Trí Châu. Năm Đại Nghiệp thứ 3 (607) hợp cả Minh Châu, Trí Châu và Hoan Châu, đổi lệ thuộc quận Nhật Nam. Nhà Đường ; Niên hiệu Vũ Đức chia quận Nhật Nam đặt làm Đức Châu, Lạ Châu, Minh Châu và Hoan Châu. Năm Trinh Quán thứ 1 (627) đổi Đức Châu lại làm Hoan Châu, còn Hoan Châu cũ thì đổi làm Diễn Châu. Năm thứ 16 bỏ Diễn Châu hợp vào Hoan Châu. Đầu năm Thiên Bảo lại đổi là Hoan Châu, thuộc vào quận Nhật Nam. Từ năm Kiền Nguyên trở về sau gọi là Hoan Châu, rồi bỏ Tri Châu mà cho lệ thuộc vào Hoan Châu. Năm Quảng Đức thứ hai chia Hoan Châu đặt quận Long Trì thuộc Diễn Châu, lại gọi là quận Diễn Thủy
Thời kỳ đất nước độc lập tự chủ
Thời nhà Ngô, Nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu. Thời Nhà Lý: đổi làm trại Nghệ An châu trại; năm Thiên Thành thứ 2 (năm 1030) đổi tên là Nghệ An châu, mà Diễn Châu thì đứng riêng làm châu. Thời Nhà Trần: năm Nguyên Phong thứ 6 lại gọi là Trại Nghệ An ,năm Long Khánh thứ 3 (1375) đổi Diễn Châu làm Diễn Châu lộ, chia Hoan Châu làm 4 lộ: Nhật Nam, Nghệ An nam, Nghệ An bắc, Nghệ An trung, cũng gọi là Nghệ An phủ, năm Quang Thái thứ 10 đổi Nghệ An làm Lâm An trấn, Diễn Châu làm Vọng An trấn .Đời nhà Hồ đổi Diễn Châu làm Linh Nguyên phủ, cùng với Thanh Hóa, Cửu Chân, Ái châu gọi là Tứ phụ
Thời thuộc nhà Minh lại đổi làm 2 phủ Diễn Châu và Nghệ An; phủ Diễn Châu lĩnh 3 huyện là Quỳnh Lâm, Trà Thanh, Phù Lưu. phủ Nghệ An lĩnh 4 châu là Hoan Châu, Nam Tĩnh, Trà Lung, Ngọc Ma và 13 huyện là Nha Nghi, Chi La, Phi Lộc, Thổ Du, Kệ giang, Chân Phúc, Cổ Xã, Thổ Hoàng, Đông Ngàn, Thạch Đường, Kỳ La, Bàn Thạch, Hà Hoa. Nhà Hậu Lê: năm Thuận Thiên nguyên niên thuộc đạo Hải Tây .năm Quang Thuận thứ 7 đặt làm Nghệ An thừa tuyên; Năm Hồng Đức thứ 1, định bản đồ tỉnh này có 9 phủ, 27 huyện, 2 châu. Thiên nam dư hạ lục chép rằng: Phủ Đức Quang lĩnh 6 huyện là Thiên Lộc, La Sơn, Nghi Xuân, Chân Phúc, Hương Sơn, Thanh Giang, Phủ Anh Đô lĩnh 2 huyện là Nam Đường, Hưng Nguyên. Phủ Diễn Châu lĩnh 2 huyện là Đông Thành và Quỳnh Lưu. Phủ Hà Hoa lĩnh 2 huyện là Thạch Hà và Hà Hoa. Phủ Trà Lân lĩnh 4 huyện là Kỳ Sơn, Tương Dương, Vĩnh Khang, Hội Ninh. Phủ Quỳnh Châu lĩnh 2 huyện là Trung Sơn, Thuý Vân, Phủ Trấn Ninh lĩnh 7 huyện là Quang Vinh, Minh Quảng, Cảnh Thuần, Thanh Vị, Kim Sơn, Châu Giang, Trung Thuận. Phủ Ngọc Ma lĩnh một châu Trịnh Cao, phủ Lâm An lĩnh một châu Quy Hợp. Toàn hạt 25 huyện, 2 châu năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi làm xứ: Xứ Nghệ .Lúc bấy giờ, Xứ Nghệ gồm 9 phủ: Phủ Đức Quang : quản lĩnh 6 huyện: Thiên Lộc (Can Lộc và bắc Lộc Hà ngày nay), La Sơn (Đức Thọ), Chân Phúc (Nghi Lộc), Thanh Chương (gồm huyện Thanh Chương và tây nam huyện Nam Đàn hiện nay), Hương Sơn (bao gồm các huyện: Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê ngày nay) và Nghi Xuân. Phủ Diễn Châu quản lĩnh 2 huyện: Đông Thành (Yên Thành và Diễn Châu) và Quỳnh Lưu (huyện Quỳnh Lưu và đông huyện Nghĩa Đàn hiện nay). Phủ Anh Đô : quản lĩnh 2 huyện: Hưng Nguyên và Nam Đường (Nam Đàn, Đô Lương, Anh Sơn)
Phủ Hà Hoa : quản lĩnh 2 huyện: Thạch Hà (huyện Thạch Hà, nam Lộc Hà và thành phố Hà Tĩnh) và Kỳ Hoa (Kỳ Anh và Cẩm Xuyên). Phủ Trà Lân : quản lĩnh 4 huyện: Kỳ Sơn (đầu thế kỷ 19 gồm 5 tổng: Cổ Khuông, Chiêu Lưu (nay khoảng xã Chiêu Lưu), Nhân Lý (nay khoảng các xã Bắc Lý, Mỹ Lý), Đỗ Lãng, Hiếu Kiệm (nay khoảng xã Hữu Kiệm)), Tương Dương (đầu thế kỷ 19 gồm 3 tổng Cẩm Dã, Yên Lòng Bán, Tứ Dương), Vĩnh Khang (tức Vĩnh Hòa, đầu thế kỷ 19 gồm 3 tổng: Phi Cốc, Thanh Nhuế, Huyền Lãng) và Hội Ninh (tức Hội Nguyên, đầu thế kỷ 19 gồm 3 tổng Bàu Lá, Nga Mi (nay là xã Nga My huyện Tương Dương), Bình Chuẩn (nay là xã Bình Chuẩn huyện Con Cuông)).
Phủ Quỳ Châu : quản lĩnh 2 huyện: Trung Sơn (nay là huyện Quế Phong) và Thúy Vân (nay là huyện Quỳ Châu và Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An) tức là đất Bồn Man xưa, người bản xứ gọi là Mường Bồn, (phần đất nay thuộc tỉnh Xiêng Khoảng Lào). Năm 1479 Cầm Công vua Bồn Man chống lại Đại Việt, Lê Thánh Tông thân chinh tiến đánh thu phục Bồn Man sáp nhập vào Đại Việt đổi thành Trấn Ninh trực thuộc Hoan Châu và cho thổ quan là Cầm Lư làm tù trưởng. Về sau lấy thêm đất Hô Mường ở phía Bắc, tức là đất thuộc Lão Qua xưa (Hô Mường (Huameuang) vùng đất nay là tỉnh Hủa Phăn Lào). Phía Tây Trấn Ninh tiếp giáp với Ai Lao.
Phủ Ngọc Ma : quản lĩnh 1 châu: Trịnh Cao (Trịnh Cao chưa xác định được ở đâu, có thể hiện nay thuộc tỉnh Bô Ly Khăm Xay Lào (vùng giáp ranh với Việt Nam như:huyện Viengthong). Theo Phan Huy Chú thì phủ Ngọc Ma cùng phủ Quỳ Châu ở phía tây trấn Nghệ An, nối liền với xứ Ai Lao. Năm 1827 phủ Ngọc Ma được đổi thành phủ Trấn Định và gộp thêm các châu Cam Môn, Cam Cát, Cam Linh (tức Phàm Linh, theo Nguyễn Văn Siêu).(Cam Môn thuộc đất tỉnh Khăm Muộn Lào, Cam Cát tứcKhamkheuth tỉnh Bô Ly Khăm Xay Lào, Phàm Linh nay là khoảng vùng Pakkading tỉnh Bô Ly Khăm Xay Lào). Cam Cát và Cam Môn là những vùng đất tiếp giáp với địa bàn huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, vì theo Nguyễn Văn Siêu thì: \”…Năm Minh Mạng thứ 21 (1840), thổ mục và thổ dân 2 huyện Cam Môn, Cam Cát đến trú ngụ ở địa bàn huyện Hương Sơn, nhân thế cho chúng chia thuộc vào phủ Đức Thọ\”
Phủ Lâm An : quản lĩnh 1 châu Quy Hợp (thuộc đất Hà Tĩnh thời nhà Nguyễn). Theo Phan Huy Chú, phủ Lâm An vốn trước là phần đất của Bồn Man chư hầu của Ai Lao, đến năm 1448 niên hiệu Thái Hòa thứ 5, tù trưởng vùng này sang thần phục nhà Lê, Lê Nhân Tông cho nhập vào Đại Việt đổi tên thành Quy Hợp, địa giới nằm ở tận cùng phía tây xứ Nghệ. Năm 1828 được đổi thành phủ Trấn Tĩnh. Theo Nguyễn Văn Siêu: Năm 1828-Minh Mạng thứ 9 trấn Nghệ An được đặt thêm 3 phủ: Trấn Tĩnh (bỏ phủ Lâm An, châu Quy Hợp đổi thành Tấn Hoàn), Trấn Biên và Lạc Biên. Phủ Trấn Tĩnh nằm ở phía tây nam tỉnh Nghệ An-Hà Tĩnh nhà Nguyễn, vốn là đất thuộc 3 động Thâm Nguyên (nay khoảng huyện Hương Khê Hà Tĩnh và huyện Nakai Khăm Muộn Lào, đầu nguồn của sông Ngàn Sâu), Yên Sơn, Mộng Sơn của châu Quy Hợp phủ Lâm An. Năm 1827, Minh Mạng thứ 8, vua Vạn Tượng là Chiêu Nỗ (Chao Anou) bị quân Xiêm đánh thua bỏ nước chạy, thổ dân Trấn Tĩnh xin nhập vào Đại Nam, Minh Mạng cho nhập vào Nghệ An, đặt là Trấn Tĩnh và đổi động thành huyện. Khoảng giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) vua Lê Tương Dực đổi xứ Nghệ làm trấn Nghệ An. Năm Giáp Ngọ (1774) quân chúa Trịnh, vào chiếm được đất 2 châu Bố Chính Nội (phía Nam sông Gianh, huyện Bố Trạch) và Bố Chính Ngoại (phía Bắc sông Gianh, huyệnQuảng Trạch và Tuyên Hóa Quảng Bình) thuộc Quảng Bình của chúa Nguyễn, đã sáp nhập cả vào phủ Hà Hoa trấn Nghệ An. Nhưng đến năm Bính Ngọ (1786), quân nhà Tây Sơn chiếm lại được vùng này lại đổi về đất Quảng Bình như cũ nhưng đặt tên gọi khác.
Thời Nhà Tây Sơn (1778-1802): xứ Nghệ được đổi làm Trung Đô (Kinh đô tương lai của nhà Tây Sơn): Hoàng đế Quang Trung cho xây Phượng Hoàng Trung Đô ở thành phố Vinh ngày nay, lại gọi là Nghĩa An trấn
THỜI NHÀ NGUYỄN
Theo Nguyễn Văn Siêu viết: \”…Bản triều năm Gia Long nguyên niên lại đặt làm Nghệ An trấn; Đồ bản và sổ hộ năm Gia Long thứ 1, chép trấn Nghệ An, 9 phủ, là Đức Quang, Diễn Châu, Hà Hoa, Anh Đô, Trà Lân, Quỳ Châu, Trấn Ninh, Lâm An, Ngọc Ma; 18 huyện là Hương Sơn, Nghi Xuân, Thanh Chương, La Sơn, Chân Lộc, Thiên Lộc, Đông Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Hoa, Thạch Hà, Nam Đường, Hưng Nguyên,Tương Dương, Vĩnh Hoà, Hội Nguyên, Kỳ Sơn, Thuý Vân, Trung Sơn. So với bản đồ thời Hồng Đức thì thiếu 7 huyện như vùng Quang Vinh, và 2 châu Trịnh Cao, Quy Hợp. Có lẽ do biên chép sai lầm.\”
Năm 1826, Minh Mạng thứ 7, nhà Nguyễn cho lấy 3 dũng là: dũng Lan, dũng Đỏ và dũng Châu của mán Lèo thuộc châu Quy Hợp phủ Lâm An trấn Nghệ An, do ở giáp ranh với phía Tây Quảng Bình (khi đó gọi là dinh Quảng Bình), chuyển sang thuộc vào dinh Quảng Bình (năm 1828 dinh Quảng Bình đổi thành trấn Quảng Bình). Phần đất này ngày nay thuộc huyện Minh Hóa và phía tây huyện Tuyên Hóa Quảng Bình.
Năm 1828, trấn Nghệ An được nhập thêm 2 phủ mới là Trấn Biên và Lạc Biên, nâng tổng số lên 11 phủ. Phủ Trấn Biên ở Tây Bắc tỉnh Nghệ An thời nhà Nguyễn, có 4 huyện lệ thuộc vốn là 4 trong 7 mán Mang Hổ nước Ai Lao: Xa Hổ (trước gọi là Man Hổ), Xầm Tộ (trước đó là Hổ Phân Xầm Tộ, còn ngày nay là Xầm Tơ huyện Xamtay tỉnhHủa Phăn Lào), Mang Lan (trước là Hổ Phân Mang Lan, ngày nay khoảng vùng Mương Lan huyện Xamtay Hủa Phăn), Man Soạn (vốn là Hổ Phân Man Soạn). Phủ Lạc Biên ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An nhà Nguyễn, vốn là đất Cống Man Lạc Hoàn (tức mường Lạc Hoàn (Muang Lakhone) của vương quốc Viêng Chăn (Vạn Tượng)).
năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) chia Nghệ An trấn thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam) năm Tự Đức thứ 6 đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo, hợp vào Nghệ An thành An Tĩnh .Năm Tự Đức thứ 29 lại đặt tỉnh Hà Tĩnh như cũ
Thời Pháp thuộc
Cùng với việc phân lại địa giới hành chính giữa các kỳ và các xứ thuộc địa của Pháp trong Liên bang Đông Dương, người Pháp đã cắt một số các phủ huyện thuộc tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thuộc xứ Trung Kỳ cho Lào thuộc Pháp vào các năm 1895 và 1903, bao gồm các vùng: phủ Trấn Biên (khoảng phía Đông Nam tỉnh Hủa Phăn), phủ Trấn Ninh (Xiêng Khoảng, Hủa Phăn (phần phía Nam Hủa Phăn)), phủ Trấn Định (Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muộn (phía Bắc tỉnh Khăm Muộn)), phủ Trấn Tĩnh (khoảng phía Đông tỉnh Khăm Muộn, giáp các huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, Tuyên Hóa, Minh Hóa tỉnh Quảng Bình ngày nay), phủ Lạc Biên (khoảng bờ Bắc và thượng lưu sông Xê Bang Phai và sông Xê Nơi, phía Nam tỉnh Khăm Muộn). Đất Nghệ An-Hà Tĩnh trở nên giống với hiện trạng ngày nay và lúc đó chỉ còn lại phần đất thuộc 6 phủ: Hà Hoa, Đức Quang, Anh Đô, Trà Lân, Diễn Châu, Quỳ Châu.
Hành chính vào đầu nhà Nguyễn của các phủ còn thuộc Nghệ Tĩnh ngày nay
Phủ Hà Hoa (nay thuộc Hà Tĩnh): Huyện Kỳ Hoa : gồm 6 tổng: Hoa Duệ, Vân Tản, Thổ Ngõa, Lạc Xuyên, Cấp Dẫn, Đỗ Chử. Huyện Thạch Hà : gồm 7 tổng: Thượng Nhất, Thượng Nhị, Hạ Nhất, Hạ Nhị, Trung, Đông, Đoài. Phủ Đức Quang : (tức phủ Đức Thọ, nay thuộc Hà Tĩnh và Nam Nghệ An): Huyện Thanh Chương : gồm 6 tổng: Bích Triều, Thổ Hào, Vũ Liệt, Cát Ngạn, Đặng Sơn, Nam Hoa. Huyện Chân Lộc : (tức huyện Nghi Lộc) gồm 4 tổng: Thượng Xá, Kim Nguyên, Đặng Xá, Ngô Trường (gồm 17 làng xã: Phan Xá (Phan, Xuân Liễu, Bảo Đài), Xuân An (An Toàn, Thượng Xá, Trung Ngũ, Mỹ Hậu), Tứ-Ngô Trường, Tứ-Ngô Xá, Chân An, Đức Quang (sở), Dũng Quyết (Thượng, Hạ), An Trường (tức Yên Trường), Giáp An, An Lưu,phường Thủy Cư; nay thuộc thành phố Vinh.).
Huyện Thiên Lộc : gồm 7 tổng: Minh Lương, Độ Liêu, Nga Khê, Nội Ngoại, Phù Lưu, Canh Hoạch, Vĩnh Luật. Huyện Hương Sơn : gồm 8 tổng: Đỗ Xá, An Ấp, Hữu Bằng, Dị Ốc, Đồng Công, Thổ Hoàng, Thổ Lỗi, Bào Khê. Huyện La Sơn : gồm 7 tổng: An Việt, An Hồ, Hòa Lâm, Lai Thạch, Thịnh Cảo, Tự Đồng, Thượng Bồng.
Huyện Nghi Xuân : gồm 5 tổng: Tam Chế, Phan Xá (gồm 5 xã: Phan Xá, Tiên Điền, Tiên Bào, Mỹ Đường, Uy Viễn.), Cổ Đạm (gồm 8 làng xã: Cổ Đạm (Kỳ Phi, An Giám, Mỹ Cầu, Vân Hải), Cương Gián, Cương Đoán, Động Giản, Liêu Đông, Nước Ra.), Hoa Viên (gồm 6 làng xã: Hoa Viên, Hồng, Khải Mông, Tiên Cần, Tả Úc (tức Tả Ao), Cồn Mộc.), Đan Hải (gồm 6 làng xã: Hội Thống, Đan Trường, Đan Phổ, Đan Hải, Đan Uyên, Đô Uyên.).
Phủ Anh Đô (nay thuộc Nghệ An). Huyện Hưng Nguyên : gồm 7 tổng: Phù Long, Thông Lãng, Đô An (gồm 16 làng xã: Đô An (Đô An, Thị Quang), An Phúc, Âm Công (Thành Công, Xuân Am), An Pháp, Mỹ Chân (Chân Đích, Kim Mã, An Mỹ, Ngọc Hốt, Xuân Thịnh), Hến, Mỹ Tục (Cự, Mỹ, Phú An, Thượng).), Hoa Viên, Hải Độ, Cảo Trình, La Hoàng. Huyện Nam Đường : gồm 8 tổng: Non Liễu, Lâm Thịnh (gồm 15 làng xã: Lâm Thịnh, Chung Mỹ, Duyên La, Trường Cát, Chung Cự (Ngọc Đình, Hoàng Trù, Kim Liên, Vân Hội, Tính, Kính Kỵ, Khoa Cử, Tiểu Ca), Gia Lạc, Hữu Biệt.), Đại Đồng, Hoa Lâm, Đô Lương, Thuần Trung, Bạch Hà, Lãng Điền. Phủ Diễn Châu (nay thuộc Nghệ An). Huyện Quỳnh Lưu : gồm 4 tổng: Hoàn Hậu, Thanh Viên, Hoàng Mai, Quỳnh Lâm. Huyện Đông Thành : gồm 7 tổng: Cao Xá, Vạn Phần, Quan Trung, Quan Triều, Thái Trạch, Vân Trụ, Hoàng Trường. Phủ Trà Lân (tức phủ Tương Dương, nay thuộc Nghệ An). Huyện Tương Dương : gồm 3 tổng: Cẩm Dã, Yên Lòng Bán, Tứ Dương. Huyện Vĩnh Hòa: gồm 3 tổng: Phi Cốc, Thanh Nhuế, Huyền Lãng. Huyện Hội Nguyên : gồm 3 tổng: Bàu Lá, Nga My, Bình Chuẩn. Huyện Kỳ Sơn : gồm 5 tổng: Cổ Khuông, Chiêu Lưu, Nhân Lý, Đỗ Lãng, Hiếu Kiệm. Phủ Quỳ Châu (nay thuộc Nghệ An). Huyện Trung Sơn: gồm 16 động. Huyện Thúy Vân : gồm 23 động
Thời Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam:
Năm 1976, Nghệ An và Hà Tĩnh hợp thành tỉnh lớn Nghệ Tĩnh
Tại kỳ họp Quốc hộ nước Việt nam đầu tiên khi đất nước thống nhất xã Xuân Song được đổi lại tên cũ là xã Cương Gián.
Năm 1991, Nghệ Tĩnh lại tách ra Nghệ An và Hà Tĩnh
PHẦN II : CƯƠNG GIÁN
Đại Việt sử ký toàn thư trang 329, Tập 1 nhà xuất bản KHXH năm 1998 đã ghi chép lại thời khắc lập ngôi nhà Lý khi Lý Công Uẩn lên ngôi có một vị được phong chức Thái Phó, ông là người Chọ hang, làng Gián Thủy huyện Nha Nghi Lộ Nghệ An, tức là làng Cương Gián Ngày nay. Chọ hang là một làng nhỏ nằm dưới chân núi Phượng Sơn( Hồng Lĩnh), theo Báo Người Hà nội số 34 ra ngày 19 tháng 8 năm 2011 thì từ thời xa xưa dưới chân núi Hồng Lĩnh có một bộ phận dân cư đông đúc sinh sống lập thành các làng có tên là Chọ Hang, Chọ đình, Chọ Trúc , Chọ Sim, cộng đồng dân cư người Kinh và người Mường đã cùng nhau khai phá vùng đất này. Vị trí của xã Cương Gián trên tấm bản đồ địa lý Việt Nam là giao điểm giữa 18,06 vị độ Bắc và 105,05 độ kinh đông trên diện tích là 2.200 héc ta với ba mươi phấn trăm là núi rừng. Một trăm chin mươi triệu năm về trước thời Nguyên đại Tân Sinh vùng đất này chỉ có Nham thạch nhấp nhô, hai mươi lăm triệu năm sau chu kỳ Himalaia xuất hiện đã làm nên dãy núi Hồng lĩnh và một vùng đồng bằng nhỏ chạy dưới chân núi. Núi Hồng Lĩnh thuộc địa phận xã Cương Gián là địa danh văn hóa lịch sử. Đỉnh cao nhất của núi ở địa phận Cương gián là ngọn Lèn cao 658m, ngọn Lịp cao 630m,ngọn bòng bòng cao 670m. Phía đông nam có ngọn Đá bạc, Trạm gió, Hàm rồng, xưa kia là những rừng sim, rừng nen nổi tiếng. Phía trên là Chọ Hang , núi đá đen, Rú Nậy, khu vực này có nhiều loại cây gỗ quý như Đinh Lim, vàng Tâm, Dẻ, Re, Muồng, chạc chìu, mây song đủ cả…Khe đèn bàn là một thắng cảnh đẹp bởi rừng trúc mênh mông, khe mưa dông, khe con tinh, khe nước nhỏ gắn với tuổi thơ của biết bao thế hệ vùng này. Ông Đặng Bường ở xóm ngõ sau trên cho biết trong rú có nhiều loại động vất quý, xưa kia hổ báo là chúa tể vùng này, các loài như con Mang, dê rừng, khỉ độc, voi rừng, kỳ đà, tắc kè, trăn rắn các loại ở đây nhiều vô kể. Mùa Bạch Lộ ( cuối thu) chim bay từ đảo xa về đỗ kín cả cánh rừng.
Phía đông là Biển, bờ biển xã Cương Gián là một bãi cát vàng trắng kéo dài gần chín cây số. Là một bãi tắm lý tưởng và có nhiều loại hải sản như con ốc ruốc, vẹm, ngao, đồng nhăn cùng ốc các loại. Ngăn cách giữa biển và làng là rừng phi lao ( Xi lau) xanh sẫm, ngày đêm vi vu như những bài tình ca bất hủ. Ngoài biển xa là đảo Quỳnh Nhai thường gọi là hòn Mắt, cách bờ chừng 25 cây số. Biển tại hòn mắt sâu tới 19 sải tay khoảng 25 m. Độ cao so với mặt nước biển là 221,75m. Ngoài xa nữa có hòn Láp, hòn Câu như những vĩ nhân sừng sững giữa biển trời. Giũa khoảng trời nước mênh mông đó, con người đã dựa vào để sinh sống. Những nghề đánh bắt cá truyền thống của Cương Gián đã trở nên nổi tiếng trong vùng. Lái Mười một phương pháp đánh bắt cá đặc biệt, số người trên thuyền tham gia đánh bắt khoảng chin người, được phân công rất củ thể. Người ngồi trên đỉnh cột gọi là “Sợ”, Sợ là người chỉ huy cao nhất của thuyền. Hàng năm sắp đến mùa đánh cá, ông chủ thuyền phải sắm một mâm gạo nếp, một ít tiền, chai rượu nếp nút lá chuối đến nhà ông Sợ để cầu ( mời), việc này rất quan trọng vì nếu ông ấy không nhận lời thì rất khó vì số người có trình độ làm Sợ rất ít. Ông “ Sợ “ là người có những tài năng sau đây : Có uy tín trong làng,đôi mắt phải tinh tường, ngồi trên đỉnh cao 4m mà có thể nhìn rõ từng con ốc dưới đáy biển. Người Sợ chỉ huy bạn các lái đánh cá như một trận đánh. Thuyền lái Mười có một cái cột buồm cao chừng 4m bẵng gỗ gie, buồm lái mười làm bằng vải đồng môn chợ huyện dệt bằng thủ công màu nâu , buồm chia thành chín dòng, cánh buồm có hình nửa chiếc lá Tra ( một loại cây ven biển). Điều khiển chạy đi chạy lại của thuyền là do cái buồm. Những khi không đánh bắt cá buồm căng gió thuyền lướt trên mặt biển trông như như một thiên thần. Ngoài nghề Lái Mười ngư dân ở đây còn làm nghề lưới rút, lưới sáu, lưới chặng, giã cào. Ngoài ra còn một số nghề mà ai cũng có thể làm có là quệu. lái con, nghề lội.Khi có tin bờ mạn nào có ruốc, cánh đàn ông đi Lội vô tư cởi hết xiêm y, họ chạy từng đoàn trên bãi biển, trên dưới lắc la lắc lư. Cuộc sống thường nhật đó nó tạo nên một nét văn hóa đặc trưng Cương gián.
Ông Trùm Ngọ là một người có uy tín trong làng, nếu sống bây giờ ông đã hơn một trăm hai mơi tuổi, ông người Ngõ Trựa ( xóm giữa), thân hình cao to khỏe mạnh, có uy tín trong làng, cái tên tục của ông không mấy ai biết đến. Ngày trước ông Trùm Ngọ kể rằng ngày xửa ngày xưa, không biết từ khi nào làng ta được lập ra. Ông đăm chiếu nói : ngày trước muốn về xã ta, đến đất Làng Bừ phải qua một con sông, bến đò đó gọi là bến Cam Tuyền. Bến Cam Tuyền là một địa danh bị lãng quên từ lâu rồi, không có ai nhắc đến. Mùa thu về những đàn chim từ biển vào đỗ trắng cả hai bên bờ sông, ngỗng trời nhiều lắm, mỗi con nặng tới hàng chục cân. Con sông Rào ngày ấy chảy từ dưới chân núi Gâm vươn ra cánh đồng Thân Linh, có đoạn ẩn nấp dưới những cái lòi cây rậm rạp đầy chim muông, Lợn Lòi ( lợn rừng) nhiều vô kể. Con sông Rào có nhiều nhánh, có nhánh chảy ra phía làng Cam Lâm rồi tạo thành một cái bàu sâu vươn tới đất Phan Xá, Hoa Vân Hải gọi là bàu Trọ Nhộng. Có nhánh chảy vào làng Cổ Đạm tạo thành bàu Hoa Khê. Trước thế kỷ thứ 17 sông Rào đổ ra biển tại cửa Nác Ra. Địa Danh này thời nhà Lê gọi là “ Trang Nác Ra”, mãi đến năm 1819 đời Gia Long 18 đổi tên thành Trang Cam Tuyền. Con sông Rào thay đổi dòng chảy liên tục, đến đầu thế kỷ 20 sông rào vươn tới làng Bến Trại và tạo thành một cửa lạch phân cách địa giới giữa hai huyện Nghi Xuân và Can Lộc. Thời kỳ này đoạn sông chảy qua làng Cương Gián là một bến cảng sầm uất, thuyền bè hàng trăm tấn ra vào buôn bán tấp nập. Cương gián trở thành địa danh thương mại trong vùng. Nước mắm Cương gián nổi tiếng một thời, hàng năm các đoàn thuyền buôn vượt biển khơi mang nước mắm ra bán tận Nam Định , Sơn Tây. Một trong số người đó phải kể đến những Đại gia như ông Đỏ Ngạch( bố ông Đặng Thảo), ông Hoàng Phùng ( bố nhạc sĩ Xuân Đông), ông Đỏ Tùng ( Bố ông chắt Vượng ), ông Dái Dòn, ông Đỏ Sè, ông Dái Tường, ông đỏ Miện, ông què Sinh, ông Chắt Liên ở xóm giếng ăn. Chúng ta có thể hình dung xã ta thời ấy thịnh vượng không khác gì Phố Hiến ở Hưng Yên. Sách vở thời đó không ghi lại thời kỳ phát triển rực rỡ của đất Cương gián này, ngay cả trong Nghi Xuân địa chí cũng chỉ nói qua về nước mắm làng Cương nhưng những đồ vật còn sót lại như các tủ Chùa Cổ, bàn ghế cổ, câu đối cổ, những bộ khay nạm bạc uống trà cổ, những bộ ấm trà uống nước đời Minh, những chiếc mũ Phớt thời Phục Hưng, những chiếc áo Badoxuy dạ Mông Tự, những chiếc Ba Toong làm bằng Ngà Voi, cho chúng ta thấy chỉ có những vùng đất thương mại, văn hóa phát triển mới có điều kiện giao lưu với bên ngoài để rồi sắm sửa những đồ vật quý giá đó.( Còn nữa )
Đặng Văn Thảo
