Tiếng Cương Gián là một thổ ngữ nằm trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, có những đặc điểm chung của phương ngữ Nghệ Tĩnh, nhưng nó có những đặc điểm khác biệt về phương diện ngữ âm, từ vựng và ý nghĩa so với các thổ ngữ khác trong phương ngữ Nghệ Tĩnh và tiếng toàn dân. Bài viết này chúng tôi chỉ muốn nói đến những điểm khác biệt về phương diện ngữ âm của tiếng Cương Gián so với phương ngữ Bắc Bộ và ngôn ngữ toàn dân (hay còn gọi là tiếng phổ thông).
Nếu ở phương ngữ Bắc Bộ chỉ có 20 phụ âm đầu thì ở tiếng Cương Gián có đầy đủ 23 phụ âm đầu của Tiếng Việt. Người dân Cương Gián phát âm rất rõ các phụ âm: tr / ch, s / x, d / r trong khi ở người miền Bắc không thể nào phân biệt được. Hiện nay ở phương ngữ Bắc không còn phụ âm [ r ], còn tiếng Cương Gián thì phát âm còn rung lưỡi các từ như “ cá rô”, “ rổ rá”, “rực rỡ”,..
Ví dụ như từ “ rổ rá”: – Ở phương ngữ Bắc Bộ phát âm [ zổ zá ]
– Còn Tiếng Cương Gián phát âm [ rổ rá ]
Bàn về vấn đề này GS Đoàn Thiện Thuật đặt giả thuyết rằng : có thể nghĩ một nguyên nhân lịch sử : “ Trước kia khi các từ “ rổ rá”, “rực rỡ” được phát âm phổ biến với một âm rung nhưng ngày nay [ r ] đã chuyển thành [ z ] trên một địa bàn rộng lớn và chỉ có thể giữ lại ở một số địa phương nào đó. Nếu đúng như vậy thì đây là một chứng tích đáng quý về những gì Tiếng Việt còn sót lại về phương diện ngữ âm”.
Một đặc điểm đáng chú ý là ở tiếng Cương Gián người dân còn gĩư tổ hợp phụ âm [dj ]. Đây là một phụ âm đầu lưỡi răng, khi phát âm có hiện tượng ngạc hoá mạnh. Theo từ điển của Tiến sĩ Nguyễn Nhã Bản ghi từ có tổ hợp phụ âm này là [ dj ]. Ví dụ như:
Dja : da
Djai : dai
Djài : dài
Djao : dao
Djiều : diều
Djọc : dọc / mệt
Djạo : dạo
Djẻo : dẻo
Djép : dép
…
[ Dj ] là hình thức phát âm cổ cuả Tiếng Việt còn được lưu giữ lại ở một số địa phương của phương ngữ Nghệ Tĩnh, mà đặc biệt là ở tiếng Cương Gián thì phát âm rất rõ phụ âm này. Đây là một yếu tố trong phát âm cổ, và hiện nay ở một số địa phương trong phương ngữ Nghệ Tĩnh còn có phụ âm này đã dần dần thay thế phụ âm này bằng phụ âm [ d ]. Chính vì thế ở tiếng Cương Gián nếu chúng ta không kịp ghi lại thì chỉ một thời gian ngắn nữa các thế hệ sau sẽ không được nghe phụ kép mà Tiếng Việt đã không sử dụng rộng rãi.
Phụ âm đầu trong tiếng Cương Gián có một số âm chệch đi so với ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên đây chỉ là cách phát âm trong sinh hoạt hàng ngày còn trong phong cách hành chính hay khi viết thì vẫn viết đúng như ngôn ngữ toàn dân. Ví dụ như : tr / ch ( triều / chiều, trậm / chậm ), l / nh ( lạt / nhạt, lầm / nhầm), s / th (siu / thiu, sưa / thưa, sẫm / thẫm sẹo / thẹo), d / nh ( dám / nhám, dánh / nhánh, dăn / nhăn), ph / b ( phỏng / bỏng),…
Một số biến âm trong tiếng Cương Gián ở hệ thống phần vần là : ô / a ( hột / hạt), u / ân ( tru / trâu, du / dâu, nu / nâu, bồ cu / bồ câu, bu / bâu, trú / trấu , cu / cậu, trù / trầu ), i / â (chin / chân , ghin / gần), ơ / ư ( trớng / trứng ), u / ô ( khun / khôn ), a / ươ ( nác / nước),…
Hệ thống phần vần của tiếng Cương Gián còn giữ lại nhiều nét cổ mà ngôn ngữ toàn dân không có. Đó là các vần [êng – êc ] , [ eng – ec ] , [ôông – ôôc ] và [oong – ooc ]. Số từ chứa những vần này có số lượng khá lớn và phần lớn thuộc lớp từ cơ bản. Ví dụ như:
– [êng – êc ] : bêng vực ( bênh vực), kêng ( con kênh ), bệc ( trắng bệch )
– [eng – ec ] : keng ( canh ), mẹng ( miệng ), méc ( mách), théc ( ngủ )
– [oong – ooc ] : troong ( trông), khoóc ( khóc ), hoọc ( học ), moọc ( mọc )
– [ôông – ôôc ] : ôông (ông), nhôông ( nhông / chồng ), bôốc ( bốc ), môốc (mốc)
– [ ing – ic ] : ring ( khiêng ),…
Sự có mặt của các vần cổ trong tiếng Cương Gián còn rất nhiều trong khi Tiếng Việt chỉ còn một số lượng ít ỏi. Hiện nay trong tiếng Cương Gián những vần cổ ấy đang song song tồn tại bên cạnh những vần mới : oong và ong, ô ông và ông, ooc và oc, ô ôc và ôc eng và enh. Và một điều đáng mừng là thế hệ trẻ của Cương Gián dù tiếp xúc với các phương ngữ khác nhưng khi về quê thì họ vẫn “đặc sệt” tiếng Cương Gián. Chính vì thế những vần oong, ôông, ooc , ôôc sẽ không dễ dàng mất đi ở Cương Gián, bởi vì nó là bản sắc về ngôn ngữ của địa phương này.
Về thanh điệu, theo quan điểm truyền thống thì có 6 thanh, nhưng ở tiếng Cương Gián chỉ có 5 thanh, không có thanh ngã, còn 5 thanh còn lại thì phát âm lẫn lộn. Người Cương Gián phát âm không phân biệt dấu ngã nặng hỏi : bác sị ( bác sĩ ), Hà Tịnh ( Hà Tĩnh),…Tiếng Cương Gián chỉ có một thanh ở âm vực cao là thanh không ( trong khi ở phương ngữ Bắc có 3 thanh là thanh không, thanh ngã, thanh sắc) còn gọi là thanh trầm. Thanh huyền không có âm vực cao trung bình của lời nói. Như vậy trong tiếng Cương Gián có đển 4 thanh trầm. Điều đó tạo nên một dáng vẻ riêng của thanh điệu trong tiếng Cương Gián, và vì vậy mà nhiều địa phương khác nói tiếng Cương Gián nặng và khó nghe.
Trên đây là những nét khác biệt của tiếng Cương Gián so với phương ngữ Bắc và ngôn ngữ toàn dân. Đây cũng là một trong những bản sắc văn hoá của người Cương Gián. Mỗi người con Cương Gián luôn luôn tự hào về quê hương – nơi có những nét văn hoá truyền thống đã nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người. Và hiện nay kinh tế đang ngày càng phát triển, sự đô thị hoá đang diễn ra ở quê hương nhưng chúng tôi tin rằng những truyền thống về bản sắc văn hóa của quê hương sẽ được lưu truyền.
Huỳnh Thị Huyền
………..0.0.0………….

