Khuôn mặt người sáng hồng, đầu hơi cúi nhìn mặt go sợi. Khuông dệt đặt nơi gần cửa sổ ngày thì sáng nhưng đêm đèn dầu hỏa leo lét tù mù. Nhiều khi mẹ cũng chẳng nhìn mà tay chân phối hợp cự dệt cũng đều tăm tắp. Thoảng hoặc đôi khi có sợi bị lỗi đứt. Người chỉ ngừng tay thoi vài giây nối, rồi lại tiếp tục dệt. Tiếng thoi lách chách. Lưới nhích lên từng tẹo theo bước chéo go như thân con kiến nhỏ tỉ mẩn. Lòng con trẻ của tôi cứ ngỡ như mẹ dệt đường lên trời. Thắc mắc thì người bảo:
Ngày con gái ở nhà ngoại trồng dâu nuôi tằm dệt vải “ làm ruộng ăn cơm nằm nuôi tằm ăn cơm đứng”.Từ cây dâu, nông tằm, kéo kén, ươm tơ,…tạo ra những sợi tơ mềm mỏng mảnh li ti dệt dày nên những cuộn vải may quần áo cho con người còn kì công hơn gấp bội so với bây giờ mẹ con mình quay tơ, quay sợi, chắp gai quay sợi dệt thành những cuộn lưới ráp khâu thành vàng lưới sáu, lưới mười rộng lớn, trụ, giạ,…đánh cá tôm ruốc trên biển, đăng đáy vây kéo đăng bắt tôm cá trên các cửa, sông rất nhiều, thế mà rồi ngày tháng thấm thoắt thoi đưa chúng đều thành.
Khi cuộn ru lô trên khung dệt vừa xong người tháo đòn quay hãm, xả cuộn lưới vừa dệt ra xếp lưới lại thành xấp đóng bao.
Việc ra dây mắc cửi mẹ thường làm vào những sáng chiều trời quang sáng khô ráo. Dáng mẹ cao, khỏe mạnh, theo bước người đi lại yểu điệu mềm mại trên sân cự trước nhà, sợi lần lần được giăng trải ra như mành phẳng đều tăm tắp, rồi người quấn sợi vào ru lô. Đưa ru lô cuộn chỉ vào khung lên go bắt chéo.
Công việc người dạy cho em gái kề tôi làm. Nó giống người như đúc cao mới chỉ ngang ngực mẹ, vừa đi học vừa tập việc đã lần dần thay được các công việc mẹ giao, dệt nên lưới đã khá mịn đều.
Khi mẹ ra chợ làng mua sắm cái ăn hay nấu nướng tôi cũng tò mò trèo lên khung lén thử, nhưng chân tay phối hợp vụng về lóng ngóng nên đành chào thua công việc con gái.
Sáng sáng người đã ngồi trên khung cửi dệt tự bao giờ khi hối chúng tôi dậy chuẩn bị ăn sáng đến trường làm phụ việc xa, sót. Lưới đã dệt cuộn đầy trên trục trông thấy.
Quanh năm người chỉ có vài tấm áo bà ba nhuộm nâu sòng, cặp yếm vải trắng và vài cái mấn (váy) thâm bạc phếch thay nhau. Ngày đông giá phải mặc bố tất lên mình, đêm đêm còn phải đốt cái lò củi liu riu* để có thể xua đi giá lạnh cặm cụi một mình.
Anh em tôi trai cũng như gái đều hiếu động, nghịch ngợm, những đứa lớn còn tồ nữa. Quần áo cả năm may ra mới có thêm một bộ bằng thứ vải thô rẻ tiền nên rách nhiều. Chiều chiều khi nắng đổ xiên qua trước hiên đôi khi người phải tranh thủ lọc ra những tấm rách, hoặc xa xót bắt chúng tôi cởi áo bị rách ra ngồi trên thềm vá lại cho con. Mắt người viễn sớm. Thường những lúc đó bao giờ cũng có vài đứa nhỏ nhít lèo rèo* bên cạnh tranh nhau xỏ kim cho mẹ khi hết chỉ. Đường khâu vá của người thẳng đều tăm tắp.
Tiếng chao vao* ngoài ngõ, quang gánh kẽo kẹt, dân làng tíu tít hỏi chào nhau hôm nay được nhiều hề, rồi mùi cá nướng dẫy lên trong làng ngoài ngõ khiến mẹ thẫn thờ, đôi khi chọc lỗi cả kim vào ngón trỏ máu tứa ra cố nén đau đưa lên môi ngậm chặt cầm máu. Bố tôi thậm chí còn phải lấy vải buồm tàu thuyền vận tải cũ lọc ra những dẻo còn lành lặn về cho con cái may mặc.
Chúng tôi được mẹ hướng dẫn phân công đảm nhận những khâu việc cụ thể. Tôi thì vì thương mẹ ráng chịu hoàn thành được khoán hộ. Anh trai nhanh nhẹn nhưng bản tính vốn ham chơi nên nếu không ra sức làm cố cẩu thả thì cũng tìm cách phú lỉnh, thành ra công việc tồn đọng mẹ cứ dỗ tôi và em gái làm khiến tôi hay em gái có chịu làm cũng vừa làm vừa âm ức cự nự mẹ khiến người rất rầu, khốn khổ chửi mắng anh, nước mắt người trào ra làm tụi tôi im re hì hụi cho xong việc.
Chúng tôi dù có ráng sức kiểu gì cũng không bao giờ đạt được tốc độ và khéo léo của người. Đó là kĩ năng đặc biệt.
Khi ngồi sót thường thì do tâm lí cố làm khoán cho xong nên chúng tôi ráng hết sức. Tay quay thiếu mềm mại không đều nên chỉ cần bẹ tơ dính nhau tí xíu là xung lực giật đứt chìm mối tơ trong cả bẹ tơ vàng ươm trên bắn. Để lần mối tơ đứt lại vội vã chọc ngón tay vào bẹ tơ bới như gà càng gây thêm sự rối như canh hẹ. Khi chúng tôi lầu bàu* kêu trời, là lúc người rời khung dệt tiến đến gần như cứu cánh thiên thần. Bàn tay người đặt trên bẹ tơ, ngón trỏ, ngón giữa, và ngón đeo nhẫn người chạm chọc vào bẹ như lẩy ra mấy vòng sợi trên lớp mặt rồi đề bắn quay vài ba vòng là lần ra múi chỉ đường tơ đứt như có phép lạ.
Người dạy rất cặn kẽ, tụi con đều lanh tay tinh mắt nhưng không đứa nào lĩnh hội đủ được cái thần trong công việc nhẫn nại kì bí của người, hầu hết chỉ lấy sức và ý chí thay cho rèn luyện kĩ năng nên năng suất hiệu quả bấp bênh. Nếu đuợc bẹ tơ tốt thì may nếu phải be tơ sợi dính kết thì nạn, vùng vằng đến phát khóc lên vì bị câu lưu quá lâu vẫn không hoàn thành việc khoán hộ của người, cay cực cả mẹ lẫn con!
Việc sót và quay xóc như bây giờ thợ quấn mô tơ. Đường tơ phải quấn đều sắp lớp dâng cấp béo dần về giữa ống sóc bằng nứa đặc biệt là con suốt bằng trúc bé tẹo để suốt đầy căng mà không đổ chỉ vừa lắp đủ thong dong lòng con thoi.
Việc quay xa đánh chỉ, ba anh em lớn chúng tôi thay nhau làm trên ngõ. Em gái sức yếu tay mềm còn nhận nải lanh lẻ* học cố bắt chước mẹ. Tôi và anh trai có phần tự ái khổ sở vì phải làm công việc con gái ngoài ngõ ngay trước mặt bàn dân thiên hạ và bạn bè cứ như quạ và công đang vẽ da lông. Tiếng gù rủ của trẻ làng trì níu xa cứ vụng về lắc lư quay tít tấn tới lúc quay con săn dần, lui chút chút lúc nhập mạ quay xa ngược, rồi tấn tới lúc mạ bắt đầu săn. Những hôm cả gió dây tơ, bông sợi co giãn không đều bặp xoắn vào nhau trì trễ phát tức. Vào những chiều hè mát khi mà những cánh diều thi nhau lên bay liệng ngoài bãi biển thì tâm hồn càng thất thiểng*. (Nèo néo mẹ xin được đồng xu nào tôi lại gắng hoàn thành việc mau để lụi* đến nhà Cố Khánh Huyn mua giấy pơ luya về dán lại những cánh diều, rồi lấy trộm sợi của mẹ buộc diều ra bãi biển đua mê mải).
Với mẹ thì không bao giờ vòng dây cu roa xa chỉnh vừa khít bánh xa, sợi ra giăng đều. Sợi người đánh người xe bao giờ cũng săn đủ con lẫn mạ. Đánh xong người ưỡn ngữa xa về sau một lượt dựng đứng lai xa. Rút lần từng hai múi sởi chỉ ra khỏi đầu tăm xa bằng thép nhoái tay doãi lẫn nữa cho hết quăn là vòng tay cuộn răm rắp. Chúng tôi học bài này không mấy khó nhưng lòng trẻ đường làng không thật tập trung làm khoán nên con nhão mạ khê, con khê mạ nhớt khiến người cũng rầu lòng với người thuê nên vừa làm vừa ốp theo dõi con khá tất bật.
Vài năm đầu Mỹ-Ngụỵ mới leo thang bắn phá Miền Bắc, lương thực huyện kết hợp xã phát động nghề phát xay để xay thóc cho nhà nước nuôi tiền tuyến. Mẹ cũng như nhiều gia đình trong thôn xóm đều tham gia nên khung cửi đành xếp lại. Lúa nhận ở kho về thường bị ỉu lẫn cả lép, mẹ phải re phơi lại trên nông cho thật khén rồi sàng sảy lại mới xay thục được. Cối xay tre các nhà kẽo kẹt nặng nề quay, chày trong thôn lên xuống nện thậm thịch. Tôi và anh trai đi học về là phải lăn ra kéo xàng xay đôi hay đạp chày đôi với mẹ. Xay, sảy, giã, sàng, giần công việc toàn thủ công nặng nhọc túi bụi. Mẹ trùm cái khăn vuông đen chít kiểu mỏ quả che đầu. Mặt mũi loang lỗ mồ hôi bụi. Từ chân đến đầu cám bụi phủ nâu lấp cả màu áo yếm mấn bạc phếch.
Công xá mẹ khéo làm cũng chỉ mót được chút tấm gọi là với trấu ủ lò nhóm bếp cùng cám bã bán như cho vì quê tôi lợn, gà đều nuôi ít, lương thực cân thóc khoán quá ngặt nghèo. (Thời ăn gạo sổ chỉ no ấm dư dả mỗi nhà cán bộ lương thực và thực phẩm công thương nhà nước).
Nghèo khó, bố tôi đi biền biệt thời gian bố mẹ gần nhau rất ít nhưng bố mẹ tôi mết nhau quá lấy chữ phúc làm đầu nên mẹ cứ sòn sòn. Cuối năm 70 hai thân đã cho ra đời yên vị bảy anh em ba trai bốn gái. Đứa lớn phụ mẹ trăm công ngàn việc. Đứa bé dìu cõng chăm ẵm đứa bé hơn, chùi dọn đứa nhít hơn ỉa bây. Đến tuổi đi học đều được đến trường làng. Học phí so với bây giờ thì chỉ đóng gọi là nhưng bố mẹ vẫn phải loay hoay xin miễn giảm cho hết anh rồi đến em.
Anh em chúng tôi đều sáng dạ. Học bài đầu đời cứ như cuốc kêu. Mẹ chỉ học bình dân mấy tháng khi đã lớn tuổi nhưng nghe con đọc ê a như hát còn nhận ra đúng sai. Đặc biệt bốn phép tính cộng trừ nhân chia chúng tôi được học bài bản làm bằng giấy bút, bàn tính con tính bằng trúc gẩy tay còn sai, nhưng người chỉ tính nhẩm vẫn kêu ra trúng phóc từng con nhanh như máy. Chắc nhờ phép tính toán không hề bị đơn sai đó mà mẹ đã trầy trật lo được cơm khoai, áo quần đưa cả nhà tôi đi qua chiến tranh khốn khổ.
Đầu óc non nớt của tôi cho đến tuổi vị thành niên thường xuyên được tưới tắm bằng những điệu à ơi lục bát, ca dao, Kiều, đôi đoạn truyện thơ nôm buồn ão não khi mà em cô lô nhít nhất khát sữa đòi bú tí mẹ.
Sau này trưởng thành đi khắp thế giới mỗi khi chiều xuống lành lạnh lòng tôi thường bị đòi đoạn với lời ru cũ xưa của mẹ:
“Lặng nghe chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau”
Anh em tôi đi học, nhà trường giáo dục lòng thù hận Mỹ Ngụy đã gieo rắc chiến tranh tang tóc cứ ao ước có chàng Kinh Kha đeo gươm đến cắt cổ kẻ gây tai họa cho đất nước nhưng người với sự từng trải và cam chịu chỉ mong đất nước sớm hết chiến tranh để được làm dân sinh sống yên hàn bình thường. Con cái sinh ra không còn phải đi chiến đấu hi sinh.
Tôi học sách kinh sử nửa vời mới biết chuyện Tam Quốc và Trịnh Nguyễn phân tranh nhưng bố mẹ tôi những người đã chịu nạn đói bốn lăm khủng khiếp, tận mắt chứng kiến giảm tô rồi cải cách ruộng đất, đội về nông dân như thác lũ vỡ bờ vùng lên đấu tố cắt cổ địa chủ cường hào,..đã thấu hiểu thế nào là nghiệt ngã của cuộc đấu tranh giai cấp.
Thế hệ chúng tôi được giáo dục Việt Nam máu và hoa. Khùng như thế mà tin sái cổ.
Phải một tấc đất đều thấm máu cha ông và hiện tại nối tiếp gìn giữ và bảo vệ nhưng nói Việt Nam máu thì dù có rải đầy hoa ắt bầu bạn và láng giềng cũng e ngại…gần.
Mẹ tôi là nông dân, người thuần thục công việc đồng áng. Khi lấy bố tôi về bể mẹ mang theo nghề tằm tơ truyền thống từ nhà ngoại và học đan vá lưới, nướng cá, muối, mắm,…của phụ nữ nhà ngư rất mau thuần thục. Nghề bể thời xưa cam go cả chồng lẫn vợ bận tối mắt mũi vì đan vá lưới tơ và lo cái ăn cái mặc. Cá được nhiều nhưng rẻ, chỉ đắp đổi gạo khoai quần áo, xây dựng phát triển chút xíu gọi là. Khi bố còn chưa đi công nhân, hai thân phải cật lực làm nông thêm để tự túc bữa khoai lạc trưa. Ngày đó đất đai hoang hóa còn nhiều. Mẹ cũng có nuôi lợn gà để tận dụng sản phẩm thừa của nhà nông nhưng có lẽ không mát tay, hiệu quả nên thôi. Mẹ chăm chỉ và tằn tiện quá độ phiên Chợ Đạm, Chợ đình quang gánh lúc nào cũng kĩu kịt lần hồi nhưng không bao giờ quên một chút bánh đúc bánh đa quà đàn con lâu nhâu mỗi khi mẹ về chợ. Cá bố được mẹ lo nướng muối mắm phơi bán dụm từng cắc.
Rồi xã a lô vận động ngư dân đi công nhân vận tải đường biển, bố tôi nhất quyết đầu quân. Mẹ buồn khóc hết nước mắt gầy so. Bố vốn đã rành nghề trẩy thuyền vận tải buôn bán sông nước từ trước lại rất đam mê gan dạ hăng say phấn đấu nhưng lương mới vào nghề đã quá ít ỏi, thu nhập cán bộ bôn lại chẳng có gì. Chỉ tội cho gánh nặng cơm áo phấp phỏng lo âu mất chồng đầu hôm sớm mai lệch sang vai mẹ.
Bố gặt về chỉ nhiều bằng giấy khen, huân huy chương. Chúng tôi còn bé thường thích dán treo trưng khoe. Mẹ nghe đồn e ngại lo sợ chuyện tàu biệt kích đột nhập lẻn vào phá nhà chẳng dám đốt của chồng cứ cụm nủm cất giấu mối họa như của hồi môn vào trong cái hộp ống mét có nắp đựng đồ câu của bố thủa bố còn đi nghề*.
Chiến tranh bắn phá lan ra toàn miền Bắc, lúa phát xay cũng không còn. Quê tôi là túi bom đạn. Trường rồi cả nhà phải sơ tán:
Mái rạ chụm giữa rừng
Toóc mẹ bứt đánh tranh
Cột cây, kèo tre cha về dựng.
Gao sổ cơm thiếu đói.
Nghề nông mẹ liền tay.
Ruộng, trâu, bò không có,
Phân lá hái ủ
Khoai sắn cuốc chai tay lên vòng.
Lúa mót thêm dặm.
Nước nguồn
Chè lá nhặt.
Cá tôm rớ* róc*.
Cà dưa muối
Trường kì cùng đất nước.
Mẹ khát vọng hòa bình.
Đường cày đảm đang, phụ nữ bảy con nhỏ riêng trông đã nhược. Càng lớn tôi càng thấm thía chuyện xưa. “Không có bò bắt mèo đi cày”. Tụi tôi dù vẫn ham chơi như bao trẻ làng nhưng vì thương và vâng lời nên không thể không chung sức cùng mẹ.
Phải lìa bỏ việc canh cửi yêu thích mẹ quần quật lam lũ quên mình mưa nắng ngoài nương đồng để lo cái ăn cho đàn con như tằm đang ăn rỗi.
Mỹ ngừng ném bom miền Bắc.
Mẹ lại dắt chúng tôi về làng tiếp tục nghề canh cửi. Dẫu đời sống eo hẹp nhưng anh em tôi đứa nào cũng hay ăn chóng lớn, phỏng phao lên so với lứa tuổi rất nhiều. Phải làm thêm đủ các nghề con trẻ trong làng câu cá, nạo nghiêu, ngán, quệu, khâu nón lá,…để tự túc dần cái ăn cái mặc.
Tôi thôi học, theo học nghề chài lưới dù còn ấm ớ công việc và say sóng nhưng cá thu hoạch vẫn đều đều. Mỗi khi bè về mẹ bắt đầu có chút phấn khởi của phụ nữ làng. Tôi học thành nghề trụ nhà bắt đầu có chút dư dả, nhưng mẹ vẫn cơ khổ lặt những con ngon đem bán kiếm tiền đong gạo như xưa, tôi kiên quyết cự nự. Chịu cực chém sóng chém gió thì chén đã. Sản phẩm vừa đánh bắt từ biển ngon tốt hơn cơm khoai không việc gì phải lo đắp đổi. Có lẽ vì thương tôi quá nên người cũng chấp nhận cái cách không bao giờ hưởng thụ của bản thân như tiền kiếp phụ nữ nhà quê khốn khổ.
Sau này khí đã lớn khôn tôi mới bắt đầu hiểu dần ra lẽ nghiệt ngã của đời thường thời chiến tranh. Người phải chạy maratong trường kì với chuyện cơm áo của gia đình.
Có điều người kể cho tôi nghe khi tôi đã thành sinh viên chững chạc rồi trong một lần về nghỉ hè. Người nói khi mẹ mang thai con mơ thấy ông nội con hiện về bảo mẹ:
Tao cho vợ chồng mày con gà trống đấy gắng mà nuôi.
Không biết có phải vì bản tính ong gà trong tôi hay do tôi lang bông thường thả lời ong nên cùng lúc có mấy cánh bướm cứ chập chờn định đến nhà tôi ở khiến người lo lắng cho các bạn gái tôi mà nói thác ra thế để răn con. Có điều mỗi khi gần bạn gái mà lòng trai bồng bềnh lên tự nhiên tôi lại nghĩ tới lời mẹ và các em gái mình cùng hậu quả mà nén lại rút êm cho nên đến giờ vẫn còn nguyên lành là một gã đàn ông tự tế với chị em dù đôi khi vẫn làm người lo ngại.
Mẹ đã có thể là tơ lụa Hà Đông với tấm áo lụa dài mềm mại, nếu đất nước được bình yên xây dựng.
Ra ngõ gặp anh hùng đến nỗi có những anh hùng phạm tội giết thường dân như giết giặc.
Bộ đội dân công thanh niên xung phong về qua làng ở nhờ dù cơ khổ nhưng vẫn được chu đáo.
Khi lớn hơn chút xíu tôi vẫn còn rất nông nổi dị ứng với cái vinh danh như hư ảo thời chiến tranh sắn khoai trừ bữa chia củ, nhưng mẹ tôi có lí lẽ âm thầm đúng đắn hơn. Bà ngoại tôi là con của hai cố bị qui là địa chủ nên bị đấu tố hồi cải cách. Bố tôi là con côi cả cha lẫn mẹ thuộc diện bần cố nông. Mẹ lấy bố tôi nên cả hai liên quan mang vạ (dù cố ngoại tôi một lòng yêu nước) bố tôi đang theo cách mạng sau này đi công nhân đường biển thời khói lửa lên đến thuyền trưởng đảng viên Cộng Sản kì cựu không còn bị mặc cảm nhưng cuộc đấu tranh giai cấp cùng chủ nghĩa lí lịch kéo dai dẳng kì thị đã làm cho đất nước thoát thai từ nông nghiệp nghèo khổ phần đông dân chúng văn hóa mới bắt đầu phổ cập nhưng không ít người có học có trí thức giỏi xuất thân từ tầng lớp địa chủ tư sản có tài lại không được dùng, một số tích thù hận đã quay sang theo phía bên kia.
Bom, đạn pháo kích của giặc đì đoàng tôi và anh trai cứ như không. Người réo gọi tụi tôi, bồng bế kéo lũ em ra hầm chữ A còn ngoi lên kéo tụi lớn xuống hầm. Đạn bom rít bay đỏ lòm tụi tôi giật thót cứ ngoái nhìn mặc cho đôi khi chúng cũng rơi vãi xuống cả làng nhưng hầu hết tọa độ vào các trận địa pháo, cầu bên rìa làng. Sau này mẹ phải húi* bố khoét nền hạ cái thùng mắm bằng gỗ làm cho hai anh đầu cái hầm chạy đạn bom dưới gầm giường ngủ.
Em trai tôi bị một cái nhọt lớn phát dưới nách sốt li bì như chết. Mẹ một mình bế em đi bệnh viện huyện cạy cục chạy chữa hết nước mắt, lòng thấp thỏm với bầy con ở nhà. Anh em tôi gà vịt xoay xở theo lời người dặn dò trước khi đi.
Hồi đó lương y còn đậm đạo Cụ Hồ nên dù nhà tiền khó gạo khan em tôi vẫn may mắn được chữa khỏi bệnh. Có lẽ vì thế mà sau này mẹ muốn tôi thi vào nghề y để làm thầy thuốc cứu đời.
Thỉnh thoảng bà con láng giềng ái ngại đến hỏi thăm em và mẹ về chưa.
Tối tối ngoại tôi lại ra thay mẹ ngủ cùng dỗ lũ nhít.
Người ta đập phá đền chùa, chúng tôi đều thuộc loại đại nghịch nhưng người luôn luôn răn đe không đươc đến phá phách ngỗ nghịch ở đền chùa.
Tâm linh của người
Đói nghèo nhưng cúng kị
Chẳng đơn sai.
Tôi đến giờ chỉ nhớ có mấy ngày quốc lễ và giỗ mẹ mỗi khi đứng trước vong linh người thật xấu hổ vì mình quá tệ lậu!
Mẹ suốt đời sống vì con cái và chồng không còn biết đến cuộc sống của người thường. Chúng tôi vô tư trước cuộc sống nghèo trong vòng tay yêu thương của cha mẹ. Song thân tôi hiếm khi tỏ tình thân mật với nhau trước mặt con cái, nhưng có duy nhất một lần tôi thấy mẹ nói gì đó với bố trước hiên nhà mà bố tự nhiên cục lên tát mẹ một cái khiến người cứ thút thít khóc suốt đêm. Tôi không rõ lí do nhưng giận bố và thương mẹ quá chừng. Sau này tôi chịu hết được tất cả những lời lẽ cay đắng của bạn gái đôi khi quá đáng và oan ức mà đành nuốt vào lòng. Đến khi có vợ lắm khi đành chịu cho vợ làm chồng chính vì lẽ đó.
Ngày tôi quyết rời nghề chài lưới đi học tiếp cấp ba đã là một chàng trai cường tráng, lúc đó họ hàng rất nhiều người can ngăn mẹ tôi đừng cho tôi đi, viện dẫn ra cả những gương tày liếp trong làng và họ tộc học giỏi nhưng vẫn bị ách lại ở làng…
Bây giờ mỗi lúc nhớ lại chuyện cũ tôi không khỏi bật cười và cảm phục mẹ. Thầy cúng lễ trong nhà vì bố thoát li không mấy khi về trúng giỗ, mẹ thường phái tụi tôi đến nhờ ông (chú họ của bố tôi) cúng hộ, nhưng chuyện học hành của con trai mẹ lặng lẽ mà quyết liệt như những tấm gương xưa.
Kể ra lúc đó nếu mẹ có ngăn tôi cũng khó lòng mà nghe theo, nhưng cả đời tôi sẽ chống chênh vì mất đi chút thiêng liêng tình mẹ. Bằng này tuổi rồi tôi không muốn thú nhận điều bất hiếu trên nhưng mẹ lại rất vui mùng cố hết sức chắt chiu để cho tôi tới trường lại, cũng như đã nhiều lần khuyên bắt anh tôi đừng bỏ học trước đây mặc kể những khốn khó chồng chất thêm của riêng người và đàm tiếu của thế gian nặng trĩu trong lòng.
Trưởng thành lên tôi bắt đầu nhận ra việc học hành mẹ ưu ái cho mấy đứa con trai hơn. Các em gái tôi học hành cũng khá, nhưng nhà đã khó lại theo trào lưu làng xã nên chỉ học xong trường làng là vui vẻ chia tay đèn sách chuyên tâm với công việc con gái. Cả bố lẫn mẹ chẳng ai khuyên bảo thúc ép học lên như mấy anh em trai trừ cô út.
Bây giờ mỗi lần xem thi đấu thể thao tôi đều thấy phần thưởng của chị em bao giờ cũng kém hơn nam giới cùng môn dù đều phải vắt kiệt trí lực tài năng để giành giật huy chương như nhau. Hóa ra khắp thế giới con người đều vậy, đều bị cái cơ chế thị trường nghiệt ngã chi phối đốn ngã ngữa bình đẳng giới.
Anh tôi mười bảy tuổi háo hức tình nguyện tòng quân người buồn lắm nhưng không hề lên tiếng. Khi anh tôi bỏ ngũ trở về bố tôi rất phiền muộn một mực bắt anh quay lại hoàn thành nghĩa vụ.
Không thấy mẹ phiền gì anh. Tôi không thấu rõ nỗi buồn vui của người. Khi anh tôi có người yêu, người không chấm sự chọn lựa của anh, nhưng anh chị một lòng đòi được lấy nhau, mẹ đã hỏi và tổ chức hôn lễ chu đáo, sau đó người huy động phần lớn sức của cả nhà giúp anh chị yên bề gia thất riêng tư…
Khi tôi đi thi đại học về người căng thẳng phấp phỏng âu lo, lần dở Kiều ra khấn bói đuợc quẻ:
“Chế khoa gặp hội tràng vân
Kim vương cùng chiếm bảng xuân một ngày”.
Người báo cho tôi quẻ Kiều, nét mặt không lộ rõ vui hay buồn, dường như câu nói chỉ để vợi đi chút áp lực đeo đẳng trong lòng hai mẹ con mà thôi. Kết quả năm đó anh em tôi đều đỗ. Tôi thì vào đại học Hàng Hải, còn em vào lớp toán trường cấp ba Nguyễn Du.
Sau này khi bị các kì thi của chính con mình thắc thỏm trong tim tôi mới dần dần cảm nhận ra được nỗi lòng mẹ.
Nợ mẹ một hình hài và nghị lực vượt khó nghèo nơi mảnh đất đã sản sinh ra dù việc chọn nghề hàng hải thời đất nước mới thoát ra khỏi chiến tranh không có gì sai nhưng suốt bao năm canh cánh trong lòng không có được người thay thế thưc hiện ước nguyện của người.
Chiến tranh kết thúc lưới ni lon, rồi lưới cước thanh mảnh bền chắc dệt máy, cùng với vải xoa bắt đầu từ Miền Nam tràn ra thị trường Miền Bắc và chạy vào làng nghề quê tôi. Các khung dệt dần dần bị xếp xó gác lên xà nhà cho nhện giăng tơ, hay bổ ra làm củi đốt. Bao phụ nữ làng thất nghiệp, mẹ lại phải bươn chải xoay sang nghề khác kiếm sống lần hồi để có thêm tiền cùng chồng nuôi các con ăn học.
Đất nước sau chiến tranh thiếu thốn đủ mọi thứ. Gạo sổ phải thay bằng khoai, sắn, mì hạt và bột mì Liên Xô viện trợ. Khoai, sắn trừ bữa với hệ tiêu hóa người Việt đã lành quen, chứ mì hạt để có thể tiêu hóa được người ta đã chế ra những máy nghiền hạt thủ công để có thể hầm với bắp ngô hay nấu độn với cơm.
Mẹ lại làm nghề cán mì sợi. Bột mì đổ lên mâm thau, gầu chế nước, hai tay mẹ thoăn thoắt nhào ướt tới đều thành khối bánh rồi dùng máy cán quay tay như thợ ép mía bây giờ cán thành bản mỏng, rồi quay máy cắt thành sợi miến đem phơi, công việc rất nặng nhọc, nhưng nhờ thế mà bột được chế ra thành miến luộc, nấu canh, hấp cơm ăn đều ngon hẳn…Cuối thời bao cấp mì viện trở không còn, những máy cán miến làng trên xóm dưới đều thành sắt vụn đem bán dần….
Mỗi lượt tôi về hè tết lại gặp mẹ cặm cụi trong nhà bếp đang ngồi xay bột gao bên cái cối đá xanh. Mẹ ngồi trên cái đòn nhỏ hai tay nắm hai cánh cái xàng xay đẩy tới kéo lui, Cối xay nặng nề chậm chạp quay đều. Dòng bột gạo mới trắng thơm thơm mịn màng như sữa tươi giữa hai thớt cối dồn vào rãnh phễu thớt dưới đổ xuống nồi chứa nước tinh bột. Khi nồi sắp đầy cũng là lúc gạo trong miệng cối trên đã hết. Người xoay thêm vài vòng xay đợi cho chảy hết nước bột xuống nồi rồi bắt đầu nhóm lửa chuẩn bị tráng bánh mướt hay bánh đa, tùy theo trời nắng mưa hay đơn hàng bà con xóm làng đặt cho công việc.
Khi nước sôi tỏa hơi đều trên tấm vải màn trắng căng trên miệng nồi, người dùng môi múc nước bột gạo đổ tráng dàn đều tròn vành vành trong miệng nồi, chờ mấy giây cho bánh chín ngã sang màu trong suốt là dùng đũa cả dũi* xuống giữa khe tấm bánh và màn vải gắp bánh ra trải lên rổ.
Mùa đông thì còn đỡ mùa hè trán và mặt mũi mẹ mồ hôi cứ giọt ngắn giọt dài. Thường thì những ngày nắng mẹ hay tráng cả bánh đa dự trữ, rắc vừng đen lấm tấm trải trên các tấm phên tre thưa đem phơi trước sân hay gác lên mái ngói nhà phơi.
Dù là tráng cho mục tiêu gì thì bao giờ người cũng dùng môi múc vài mẻ tráng cho cậu con trai quí là tôi lót cái bao tự vốn phàm ăn thường xuyên bị đói, sinh viên thời bao cấp. Tiếp đó là những bữa cơm xôm xả* đĩa đầy cá tươi, vì thế cơ thể được tẩm bổ của tôi bao giờ cũng có da có thịt lên sau mỗi đợt về hè tết.
Nắng nỏ cùng với gió chan hòa ở quê tôi, khiến mùi bánh gạo mới, mùi hành, mùi ruốc khô rang gói ghém, mùi vừng ác trên bánh đa khô nướng dậy lên thơm phức. Dân làng rỉ rả* đến mua về chấm mắm cốt ăn với bánh mướt, mua bánh đa về nhắm cuốc lủi giãn gân cốt sau những chiều biển cực nhọc hay mang cả đi biển.
Hồi đó quê tôi còn chưa hề có quán xá như bây giờ.
Mẹ còn để giá. Công việc bòn tro đãi sạn* này mẹ cũng học từ ngoại. Đỗ xanh mùa lựa mua ở chợ về thường được người phơi lại thật khô nỏ để mát rồi cho vào vò đẩy kín.
Ngóng khi trời sắp trở tiết động người dùng bát đong ra từng mẻ chỉ đủ cự ấm, dùng giần sảy bụi, tỉ mẩn nhặt sạch từng hạt chắt* lép, đem vò cho vỏ đỗ ra xanh nhạt, ngâm nước cho đến khi hạt đỗ đã trương nứt vỏ, người cho đỗ vào ấm đất bụng to tròn miệng chỉ như cái bát tô, cài chặt miệng bằng lá tre tươi, ủ nơi nắng ấm, ngày tắm thay nước giếng mấy lượt. Chỉ vài hôm mầm giá đã lên đầy căng nồi cũng là lúc biển động, Mẹ cởi lá tre gài miệng ấm lấy giá ra sảy vỏ xanh bán cho hàng xóm đến mua tại nhà. Giá thân dài chừng năm cm thân mập mạp trắng muốt, hầu như không có rễ và đặc biệt không bao giờ có mùi ủng như một số giá bị ngâm quá nước lâu bán ở chợ các tỉnh, thành ngày nay.
Loại rau sạch ăn giòn ngọt lừ còn vị thơm béo này, mẹ buôn nằm lấy công làm lãi, ăn từ gốc đến ngọn nhưng lời cũng chỉ có ra chút đỉnh dọn lên mâm cho cả nhà trong những ngày biển động như là cá, ruốc, mực tươi mẹ vẫn chọn mua ngày mùa khi biển được nhiều giá rẻ muối mắm phơi khô, cũng như là sắn, khoai gọt vỏ dát mỏng và lạc phơi khô, tất cả đều trữ đậy kín trong chum vại khi dở nắp ra thơm lừng để dành ăn và bán kì đông gíá.
Trong các cô bạn thân tôi hồi đó mẹ biết tôi đang nhằm đến một cô nhưng còn vài điều khó trong lòng, người chỉ một lần khuyên tôi nên như để tránh cho tôi khó khăn về ba mẹ, nhưng khi tôi dùng dằng rồi quyết định không đi tới, người cũng không bao giờ tính toán đề cập lại chuyện cũ.
Tôi nghĩ sẽ phải độc hành bươn chải với công việc và sự nghiệp của mình vì cũng như mẹ thôi chọn lựa nào cũng phải chịu cả cam go thậm chí thiệt thòi để không đánh mất mình.
Ra trường thời buổi nhà trường phân công công công tác, người tìm được việc làm đúng nguyện vọng cứ như lần đường lên trời. Dù gặp khá nhiều ngang trái đời thường, nhưng rồi nỗ lực của bản thân cũng như cha mẹ bao dung thầy cô đỡ đầu hộ trở, tôi đã đến được Vosco hành nghề với bao mơ ước đam mê. Hai thân tôi chống chếnh như heo may thổi trong lòng vì đến phút cuối tôi đã rời bỏ nghề quê nơi bố mẹ sặp đặt nhưng im lặng cho con bươn chải để bằng anh bằng em…
Công việc nặng nhọc lần hồi kéo dài khiến mẹ xuống sức sớm Tôi đi tàu được vài năm mẹ sinh ra hay ốm vặt. Mẹ lặng lẽ nén chịu một mình. Công việc bận rộn và ngu ngơ khiến tôi thành tệ lậu chẳng quan tâm mấy đến người. Khi được tin mẹ đau nặng tranh thủ về thăm mới biết, mẹ bị ung thư dạ dày đã vào giai đoạn cuối. Sự chăm sóc tận tâm của chồng con cũng chỉ là cố làm dịu nỗi đau kéo dài thêm cuộc sống héo tàn của mẹ mà thôi. Ra giêng rét giá thấu xương mẹ lặng lẽ ra đi…
Bây giờ anh em tôi đều đã trưởng thành có mái ấm gia đình riêng và công việc ổn định, lũ con cháu được đôn đốc đến trường học tập đến nơi đến chốn cũng chỉ là noi theo gương bố mẹ nhưng thế hệ mẹ làm được cho con là cả một sự hy sinh vô bờ bến.
Đằng sau sự nghiệp của mỗi người con dù lớn hay nhỏ đều có lòng tận tụy thương yêu trời biển của mẹ hiền. Và không phải ngẫu nhiên mà tiền nhân khắp thế giới đều tri âm tri ân với những phụ nữ chọn nghề chăn tằm quay tơ dệt vải. Những người thật sự giỏi bằng vào mẫn cảm xa quay có thể thấu được lẽ trời đất và lần ra mối trong nhằng nhịt những đường tơ đời chỉ ra cho con cháu đi tới đích no ấm an vui.

