Khi đã nhận thức được hạnh phúc và bất hạnh, tôi nghĩ về những phận người ở bên tôi. Họ bình dị, gần gũi, những gia đình như kết lại thành một. Cả ngày xưa. Đến cả bây giờ.
Ông nội tôi và ông Thọ là hai anh em ruột thịt. Giống nhau từ lời ăn tiếng nói. Ông nội là anh cả, sinh ra Bố và o tôi. Ông Thọ có nhiều người con: chú Thọ, o Hồng, o Đào, chú Tửu, chú Nam, o Lý. Càng đông con, càng nhiều nhân khẩu, thì cuộc sống gia đình càng khó khăn.
Ông Thọ làm nghề đánh cá. Vị thuyền trưởng thuyền lưới mười có tiếng một thời ở Cương Gián. Thuyền công suất lớn, quân đông, đánh đâu thắng đấy. Nhưng nghề biển chẳng mấy ai giàu. Hôm nay có thể cá đầy khoang; ngày mai có thể kéo cờ trắng báo con số không tròn trĩnh. Quanh đi quẩn lại, nghèo vẫn hoàn nghèo. Vẫn những tiếng thở dài sông nước. Vẫn mặn chát vị muối trên môi. Vẫn bạc trắng những mái tóc dãi dầu mưa nắng và vẫn làng nghèo đìu hiu cơn gió nồm nam hun hút bốn mùa.
Nhạc điệu du dương lá tre xoã tóc; nắng chói chang; mưa dầm dề giá lạnh; âm hưởng làng quê trầm bổng như đồng vọng kiếp người.
Buổi sáng, ông Thọ dậy thật sớm pha ấm chè xanh thật đặc ngồi nhâm nhi cả giờ đồng hồ. Chẳng hiểu ông đang nghĩ gì ?, đôi mắt răn reo bâng khuâng nhìn ra khoảng sân đầy nắng, khoảng sân lá vàng lao xao. Vừa uống chè xanh vừa trầm ngâm nhai trầu. Lá trầu xuyên thế kỷ. Màu trắng của vôi. Màu xanh của lá. Màu nâu của thuốc lào loăn quăn. Màu cau xám trắng. Quyện lại thành màu đỏ tươi. Chẳng cơm, chẳng phở, mỳ tôm, ông điểm tâm bằng miếng trầu, ấm chè chát. Sáng nào cũng vậy, khi ấm nước đã cạn và miếng trầu lã chả còn lại những bã, ông thong thả chắp tay sau lưng đi ra phía biển.
Trời yên. Biển là nơi nhộn nhịp nhất của làng. Nhưng mọi hoạt động dường như chỉ sôi nổi về sáng hoặc chiều tà. Trưa đứng bóng, khung cảnh buồn thiu. Hợp tác xã huy động thuyền viên mang lưới ra phơi; phơi xong lại vá. Có người vừa vá lưới vừa ngủ gật. Những người phụ nữ rỗi việc tranh thủ ngồi buôn dưa lê. Cứ hai bà trở lên, bãi biển trở nên ồn ào. Sự ồn ào rỗi rãi thường buồn tẻ. Hết chuyện, các bà xoã tóc bắt chí. Bắt được con nào, cho vào mồm cắn cái độp ngon lành. Trứng chí, cắn càng kêu. Nhiều người xem việc bắt chí là một thú vui.
“Lại đây, cu !”
O Đào thường gọi tôi “thằng cu”. Thẳng thắn và trìu mến. Tôi sà vào lòng o. Ngón tay o rẽ những đường dễ chịu trên đầu. Dưới trận gió nồm mát rượi, tôi ngủ thiếp đi lúc nào chẳng hay. Ngủ và chẳng mộng mơ gì cả. Giấc ngủ trẻ thơ trong veo.
Trong 6 anh em, o Đào lận đận nhất. Lấy chồng. Chia tay. Lại lấy chồng. Càng đi sâu vào con đường tình duyên, o tôi càng khổ. Đôi mắt o tôi như đẫm lệ. Có lẽ nhiều đêm trường, bên gối chăn đơn chiếc, o đã khóc.
Thời con gái, o đi Hưong Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh) mua hoa quả về bán ở chợ Cương Gián. Chẳng nhớ nổi những chuyến xe, nhưng đến tận bây giờ tôi vẫn hình dung rõ dáng o ngồi bên thúng hoa quả nơi chợ quê thanh đạm. Nào cam, nào chuối, mơ, mận, dâu gia…giữa thì con gái, o tôi lấy chồng. Và từ đó, một cuộc đời dâu bể. Tháng ngày đẹp nhất hạnh phúc nhất có lẽ là khi o còn trong mái ấm gia đình mình. Khi tình riêng chưa vận vào ai.
Người chị, o Hồng, dáng nhỏ nhắn. Em lấy chồng, chị vẫn ở vậy. Cho đến bây giờ o Hồng vẫn ở vậy. Chú Thọ, chú Tửu, o Lý, đều đã lập gia đình. Nhưng chú Nam năm nay đã 45 tuổi vẫn bình chân như vại. Hầu như đêm nào cũng vậy, sau bữa ăn tối là chú Nam rảo cẳng đi chơi. Có hôm đi cưa. Có hôm đi đánh cờ tướng với mấy người bạn. Hình như chú đi cưa cho có phong trào chứ chẳng màng gì chuyện vợ con. Người ta chỉ cho chú đám này đám nọ. Người ta giới thiệu cho chú cô này cô kia, làng trên xóm dưới. Nhưng nghe xong, chú khịt mũi, lắc đầu. Toàn cô xinh xắn đẹp đẽ cả đấy, nhưng chú Nam vẫn khịt mũi lắc đầu. Chẳng biết chú xem đàn bà là cái giống gì mà chú lạnh nhạt đến vậy. Chú tôi dị ứng với đàn bà.
Buồn tình và ngẫu hứng, chú làm thơ, đọc sách. Chú đọc cũng nhiều. Ngày tôi chục tuổi đầu, chú bảo tôi đọc “Nguyễn Trãi đánh giặc, giữ nước”; “Mùa lá rụng trong vườn”; “Ruồi trâu”. Làm sao tôi hiểu được, làm sao nhớ hết được những nhân vật, sự kiện trong sách vở. Tủ sách của chú rất lạ. Không có giá sách. Không xếp ngăn nắp như thư viện. Mua được quyển nào, đọc xong, chú bỏ vào trong chum sành. “Như thế tránh được mối mọt. Mối mọt không đục thủng được chum sành”, chú Nam lý sự. Năm này qua tháng khác, sách đầy mấy chum. Bao nhiêu thơ làm được chú cũng cho vào chum.
Vừa bám biển, gia đình bác Thọ vừa làm thêm nghề nông. Ngoài sào đất xã chia ở đồng bãi, các con của Bác khai hoang thêm thửa đất trồng lạc. Nhưng tính chú Nam lạ lắm, luôn làm những chuyện khác người: cả làng trồng lạc chính vụ, chú tôi gieo trái vụ. “Sao lại phải làm giống như những người khác, phải đổi mới đi chứ. Để xem năng suất lạc trái vụ thế nào”, chú Nam nói. Năm đầu, mất trắng. Thân cây cao ngồng, nhổ lên toàn rể là rể. Mất toi mấy cân lạc giống. Mùa sau, chú Nam vẫn bám đồng, vẫn làm lạc trái vụ. Nhờ chăm sóc tốt và rút kinh nghiệm vụ trước, năm đó thắng lợi. Lạc chất đầy nhà. Lạc phơi đầy sân. Làng xóm thấy lạc trái vụ vẫn cho năng suất cao, nhiều người rủ nhau làm theo cách của chú Nam. Vì thế, trên đồng làng luôn xanh tươi. Khoai, lạc gối vụ, luân phiên. Đất không bao giờ được nghỉ.
Củ lạc phơi khô, cất vào chum. Thân lạc giã nát làm thức ăn chăn nuôi. Những trưa hè, tiếng cối giã đều đều nghe thật buồn, ngái ngủ. Cối là tảng đá trắng to đùng, đục thành hình phễu; chày đẽo bằng thân phi lao. Một người giẫm chày; một người ngồi bên cối liên tục đưa tay đảo cây lạc khô. Khi cây đã thành thứ bột tơi, mịn, vớt ra thúng nấu thay cám chăn nuôi. Cây lạc chẳng bỏ phí thứ gì, từ thân, rễ, củ.
Dưới tán tre, dưới hàng phi lao yên ả, nhịp đời đi chầm chậm. Năm này qua tháng khác chẳng mấy đổi thay. Các o tôi vẫn quần lụa đen; vẫn tóc dài; vẫn làn da rám nắng; vẫn bàn tay thô ráp dãi dầu mưa nắng. Cặm cụi làm lụng. Lặng lẽ đi về. Âm thầm đón nhận hạnh phúc, âm thầm chịu đựng bao nỗi khổ đau. Không bao giờ ca thán.
Gia đình ông nội neo người hơn. Bố tôi đi xa. O tôi lấy chồng ở quê. Rồi chia tay. Rồi o đi bước nữa. Người chồng thứ hai mất vì tai biến mạch máu não, o ôm con trở về với căn nhà tuổi thơ, nơi o đã lớn lên. Gánh nước mắm; chiếc đòn gánh kĩu kịt; bàn chân trần chai sạn bôn ba khắp mọi nẻo đường “Thạch Nhọn” (Thạch Kim – Thạch Hà); Cửa Hội; Chợ Huyện; Vinh; Nam Đàn (Nghệ An).
Bà và o quảy gánh chạy bộ. Làng trên xóm dưới. Làng nối tiếp làng. Ngày nắng cũng như ngày mưa, chẳng mấy khi được ngơi nghỉ. Những đôi dép cứ vẹt mòn và lưng bà còng xuống như chở cả sức nặng của thời gian. Mùa tôm cá, ông tôi ra biển mua hàng tạ ruốc tươi về chế biến thành mắm tôm. Mắm tôm ủ trong chum chín dần, thoang thoảng mùi thơm. Đợi đến giáp tết mới mở nắp, chế biến nốt công đoạn cuối cùng: pha thêm nước sôi, đánh cho mắm tôm tơi ra, cho vào thùng để bà và o quảy gánh đi bán. Nhà nào không có tiền, đổi mắm tôm bằng khoai, gạo. Thế nên sau mỗi phiên chợ, trên gánh hàng của bà kĩu kịt những gạo, khoai; thêm mấy gói bánh đúc, cặp bánh đa vừng. Lương thực đem về, chẳng dám ăn nhiều. Chủ yếu khoai sắn trừ bữa. Gạo dự phòng trong hũ có khi mối mọt lúc nào chẳng hay. Đổ ra, những chú mọt li ti lưng đen trùi trũi. Từng hạt gạo bị đục ngang thân nom rất thảm hại.
Quê có món “rượu nợ”. Không có tiền, nhiều người đàn ông đến hàng rượu uống nợ. Trời lạnh. Men rượu cay cay. Khi đã ngấm hơi men chếnh choáng say khách lẳng lặng đứng dậy phủi tay phán một câu xanh rờn: “Bữa ni quên mang tiền, ghi vô sổ trả sau, nhé”. Rượu đã vào bụng khách rồi, làm sao đòi lại được. Chị chủ quán đứng tần ngần bên liếp cửa nhìn khách tung tăng ra về, miệng không ngớt cằn nhằn: “Lại nợ. Lại nợ”. Nợ rượu cũng là một trong những món nợ khó đòi. Nhưng nợ được bữa rượu, có khi hoa cả mắt.
Tính ông nội tôi trầm tĩnh. Trầm tĩnh và ít nói như người em ruột của mình.
Bố tôi nghiên cứu sinh ở Liên Xô về nước, vào Nha Trang giảng dạy tại khoa kỹ thuật (Sân bay Nha Trang). Một hôm, ông tôi nói: “Tao vô thăm chắt Huy !”. “Bố đã về thăm nhà tết năm ngoái, ông đi mần chi cho cực ?”. “Thì ở nhà lâu cũng nhạt, đi cho khoẻ cái chân”.
“Tiền đâu để ông đi tàu xe ?”, tôi hỏi ông nội.
Ông nội cười tủm tỉm: “Đi bộ”. Rồi gói ghém đồ đạc chuẩn bị hành phương Nam. Từ Hà Tĩnh vào Nha Trang trăm nghìn cây số xa xôi, ông tôi đi bộ biết bao giờ mới tới nơi ?
Rời Cương Gián, ông cuốc bộ lên Gia Lách (Nghi Xuân) giáp Vinh. Một mình ông lui cui đi dọc Quốc lộ 1, vào Quảng Bình, Quảng Trị. Mỏi chân, gặp xe khách, ông vẫy tay:
“Cho Bọ đi Nha Trang !”
“Bọ có tiền không mà đòi đi ô tô ?, Lơ xe hỏi.
Ông gật đầu.
Xe chuyển bánh. Đi đường xa mệt nên vừa đặt lưng lên ghế là ông ngủ ngay. Xe chạy được một lúc Lơ xe lại hỏi: “Bọ ơi, cho con xin tiền”. Ông giật mình choàng tỉnh. “Mới đi được một đoạn, chưa chi chú đã đòi tiền. Đi đoạn nữa rồi Bọ trả, lo chi”. Xe vẫn chạy. Vài giờ đồng hồ sau Lơ xe lại giục: “Bọ cho xin tiền”. Đến lúc này, ông mới khẩn khoản:
“Nói thật với chú, Bọ hết tiền rồi. Chú cho Bọ đi nhờ vô Nha Trang, chứ đi bộ trăm nghìn cây số mệt lắm. Chú thương Bọ với”. Lơ xe xẵng: “Biết ngay mà. Thôi, thôi, Bọ xuống đi bộ cho tụi con nhờ”. Đoạn xua tay lia lịa.
Ông nội tôi lò dò bước xuống.
Lại cuốc bộ.
Trên đường thiên lý, thỉnh thoảng ông gặp những người tốt cho đi nhờ xe. Biết ông già cả, đói nghèo, chẳng ai đòi tiền. Túc tắc mấy hôm, cuối cùng ông cũng tới được đất Nha Trang.
Bây giờ thì ông đã yên nghỉ nơi suối vàng. Chẳng đau yếu chi cả. 83 tuổi thanh thản nhắm mắt ra đi. Ông Thọ cũng đã ra đi. Chú Thọ, người con trai đầu lòng cũng đã ra đi vì căn bệnh ung thư. Chắc ngoài cõi trần gian, những người yêu thương đã gặp nhau. Tôi thấy hai ông khề khà bên chén rượu, ôn lại chuyện đời.
Vẫn còn đó, hình ảnh của chiều mưa Cương Gián. Ngón tay gầy lần giở lại những trang sách chữ Hán, ông thì thầm đọc và giảng nghĩa cho chúng tôi nghe. Những giây phút ngọt ngào thánh thiện mà bậc tiền nhân đã truyền vào trẻ thơ cảm xúc yêu thương, lòng tin ở cuộc đời, ở con người.
Quang Long
