
Tài sản riêng… ra tòa “biến” thành tài sản chung
Ngày 25-9-1985, bà Đặng Thị Quyền kết hôn với ông Phạm Văn Nữu (ông Nữu kết hôn lần 2) trú tại khối 5, thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Cả hai người khi kết hôn đều đã có nhà, đất riêng và đồng thời cả hai đều không nhập tài sản riêng đó thành của chung, chỉ về chung sống với nhau tại ngôi nhà trên mảnh đất của bà Quyền tại thị trấn Xuân An. Sau một thời gian chung sống, cả hai biết rằng “cơm không lành, canh không ngọt” nên đã đồng ý ly hôn. Ngày 30-12-2003, TAND huyện Nghi Xuân tiến hành xét xử việc ly hôn giữa hai ông bà. Tại phiên tòa này, TAND huyện Nghi Xuân đã kết luận thửa đất 450m2 đứng tên bà Đặng Thị Quyền là tài sản chung được chia đôi theo qui định của pháp luật. Sau khi có kết luận của tòa án, bà Quyền đã có đơn kháng cáo với nội dung cho rằng mảnh đất đó không thể chia đôi vì đó là tài sản riêng của bà trước khi kết hôn, được hợp tác xã (HTX) Hồng Giang cấp ngày 25-1-1985 (8 tháng trước khi kết hôn). Điều đáng nói là tài sản 450m2 đất này đã được nhiều nhân chứng là cán bộ HTX Hồng Giang thời kỳ đó (hiện đang còn sống) chứng nhận là tài sản riêng của bà Quyền, đồng thời đưa ra nhiều bút tích có chữ ký nguyên thủy mà thời kỳ đó họ đã ký cấp cho xã viên của mình. Đó còn là căn cứ để UBND huyện Nghi Xuân ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đặng Thị Quyền vào ngày 19-2-1990. Với những chứng cứ như vậy, thì 450m2 đất này là khối tài sản riêng của bà Quyền là chính xác. Tuy nhiên đến nay gần 10 năm xét xử vụ án ly hôn hi hữu này vẫn chưa xong, nhiều cấp Tòa vẫn giữ nguyên kết luận chia đôi khối tài sản ấy. Sau nhiều năm, bà Quyền vẫn không chấp nhận quyết định vô lý đó. Nhiều người dân, bà con, người cùng HTX trước đây với bà đã theo sát vụ án cũng không đồng ý và rồi tập thể gồm 11 người là nhân chứng sống về nguồn gốc mảnh đất của bà Quyền cùng thống nhất làm đơn kháng nghị gửi TAND tỉnh Hà Tĩnh, TAND tối cao, VKSND tối cao… về trường hợp của bà Quyền nhằm đòi lại công lý cho bà.
Tòa sử dụng luật hết hiệu lực để xử kiện
Điều đáng nói là thời điểm Tòa thụ lý và xét xử vụ án (năm 2002) thì Luật Hôn nhân và Gia đình đã qua 2 lần sửa đổi. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm ngày 28-9-2004, Toà án lại áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 để xét xử. Cụ thể TAND tỉnh Hà Tĩnh nêu quan điểm “Quan hệ hôn nhân và quan hệ tài sản của họ trong thời kỳ này phải chịu sự điều chỉnh của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959. Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 quy định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với khối tài sản có trước và sau khi cưới”. Bởi vậy, việc xác định quyền sử dụng đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng ông Nữu, bà Quyền để phân chia cho hai bên”. Như vậy, việc TAND tỉnh Hà Tĩnh áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 để xét xử đã trái với Nghị quyết 35/2000/NQ-QH ngày 9-6-2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ ly hôn giữa bà Quyền và ông Nữu được TAND huyện Nghi Xuân thụ lý ngày 30-12-2003 số thụ lý 22 thì phải áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 mà Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH đã quy định. Còn tại Điều 32, điểm 11, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 ghi rõ “Tài sản riêng của vợ, chung gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn”, Điều 97 chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn tại điểm 1 Luật này quy định “Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó”.
Theo Báo Đại đoàn kết

