Cỏ non đánh thức đồng xanh. Ngọn cỏ vui tươi nhú mầm, giữa không gian ngập tràn ánh sáng. Những đàn én chao liệng trên không. Én bay rợp trời.
Chú Nam lay tôi dậy từ 5h sáng. Đơm én là một thú vui. Bộ đồ nghề rất đơn giản: chục chú én mồi đã khâu tịt mắt bằng chỉ trắng; ống đựng hàng trăm que nhựa (làm bằng nhựa cây rừng) nhình hơn que tăm, dài một gang tay; chiếc sào nứa; giỏ đựng én đan bằng nứa; và mấy cành tre tua tủa chĩa lên trời.
Chúng tôi đi bộ bám theo bờ biển vượt 3 cây số đến cửa Bàu, nhánh sông nhỏ cuối làng, khi trời còn mờ sương. Đào đất. Chôn cọc. Lấy cành phi lao vây kín chỗ ngồi, che mắt bầy chim. Chú Nam “khác người”, không dùng 4 cành tre đã vặt trụi lá để làm chỗ cho én đầu; mà chặt nguyên cả một cây tre loại vừa, dựng tênh hênh bên mép sông. Kiểu này đơn giản gọn nhẹ và rất tiện lợi. Chỉ có điều, vác được cây tre cao lênh khênh từ nhà ra sông cũng mướt mồ hôi.
Trời hửng sáng. Từ phương Nam, hàng nghìn con chim én lũ lượt bay về. Tiếng kêu chíp chíp vang khắp cánh đồng. Chúng tôi ngồi dưới gốc tre già nín thở chờ én sập bẫy.
Bầy én quần đảo trên trời, rồi sà xuống đậu trên cành tre. Thong thả tỉa tót bộ lông đã ướt sũng vì sương lạnh. Cái đầu ngúc ngắc, ngó nghiêng. Chỉ đợi có thế, chú Nam nhè nhẹ đưa cây sào phía đầu có dính que nhựa, chờ én xoè cánh rỉa lông là alê, khẽ chạm que nhựa vào bên trong đám lông mượt. Khi cánh én khép lại thì đã dính chặt nhựa, không bay lên được. Bịch. Bịch. Bịch. Những chú én lần lượt rớt xuống, nằm quay lơ trên cỏ. Chừng nào trên cây tre không còn mống nào nữa, chúng tôi lồm cồm bò ra, nhặt chim én cho vào giỏ.
Đơm từ sáng tinh sương đến trưa đứng bóng, đã một giỏ én đầy.
Ngoài số én đem bán ; phần én còn lại bị vặt trụi lông. Chiếc lò than hồng đã chực sẵn. Thui lên. Tiếng kêu thảm thương.
Làm thịt én là một công việc tàn nhẫn.
Bạn đã bao giờ cầm chú chim én xinh xinh trên tay, vặt lông lũ chim trong tiếng kêu não nùng ?. Ngắm nghía con chim nhỏ vẫy đôi cánh trần trụi như giơ tay xin hàng ?. Rồi xâu lũ én lại thành hàng ngang trên que nứa che đôi, cho vào lò than rực hồng, nghe tiếng mỡ cháy xèo xèo, tiếng giãy chết yếu ớt ?. Bộ lòng én quá nhỏ chẳng dùng vào việc gì, vứt ra sân cho đàn gà tranh nhau ăn. Đàn gà đuổi cắn nhau chí tử. Con mực đang lim dim ngủ gần đó bỗng choàng tỉnh phát hiện thấy mồi ngon. Mực cao hứng xung trận. Đuổi lũ gà tan tác.
Mùa xuân. Không hoa. Không hương. Thảng hoặc nắng miên man và đông gió thổi về se sắt.
Hè báo hiệu bằng những trận gió Tây Nam hanh khô, nóng bỏng. Đây cũng là mùa nhộn nhịp hoạt động đánh bắt hải sản gần bờ: giả, lưới rẻo. Gỉa có giả kéo bằng máy và giả chân. Không có thuyền máy, chúng tôi đi giả chân (kéo bằng tay).
Một tấm lưới dài khoảng 20m, phía đuôi là cái đáy đựng ruốc (moi tươi) đánh bắt được; phía trước kẹp phao; bên dưới buộc chì. Hai tay cầm cách nhau khoảng 10m, cứ thế, chúng tôi đi dọc biển ở mực nước ngang hông, có khi sâu hơn để đánh bắt ruốc tươi.
Nghề kéo giả bằng tay cũng cần kinh nghiệm. Chú Nam là người có nhiều kinh nghiệm trong công việc này. Chiều tà, chú thong thả đi ra phía biển, nhìn sóng nước. Trong sự trầm lặng tĩnh tại ấy, hình như mọi giác quan đã căng lên nghe ngóng. Tín hiệu đến từ sóng ?, nước ?, trời ?, mây ?; hay âm hưởng từ gió cuốn ?, muối mặn ?. Tôi cố gắng học hỏi ở chú chút kinh nghiệm tưởng chừng như giản đơn ấy nhưng đành chịu. Kinh nghiệm đúc rút từ tuổi đời, tuổi nghề.
“Chuẩn bị đi kéo giả nhé”, chú Nam buông một câu ngắn gọn. Tôi bừng tỉnh. Được bơi lội tung tăng dưới nước, cắt sóng giữa khí hậu nóng bức thế này, còn gì bằng. Chú ôm lưới. Tôi cầm cuộn dây. Nhằm hướng Song Long, Song Phượng, hai làng kế cận nằm trong xã Cương Gián.
Chú cử tôi xuống nước dò luồng moi. Đi một thôi dài, dưới chân thấy lăn tăn, đi thêm chốc nữa thì lạc vào bãi moi dày đặc. Hàng trăm con moi nhỏ đâm vào chân rộn ràng. Tôi giơ tay vẫy. Chú Nam vác giả xuống, cột dây, chúng tôi đi cách nhau chừng chục mét. Bắt đầu kéo.
Tiếng sóng vỗ rì rầm. Gío Tây Nam, sóng gần bờ lơ đãng. Đó là những ngày đẹp trời, biển lặng. Kéo được gần 30 phút thì chú bảo dừng tay. Tôi cầm chạc hỗ trợ, chú kéo lưới. Vừa kéo vừa giũ cho đám moi chạy về phía đáy. Nếu moi dày đặc, một tay kéo có thể đánh bắt được hàng yến moi tươi. Có hôm hai chú cháu kéo được gần tạ moi. Phải chạy bộ về nhà gọi người ra gánh.
Moi mang về, thứ thì chế biến thành mắm tôm; thứ phơi khô. Chỉ cần phơi trên nền gạch vài tiếng đồng hồ, moi đã khô như thính. Chế biến moi tươi thành mắm tôm là công việc đơn giản: cho moi vào chum sành, rắc một lượng muối vừa đủ; đảo đều; ủ vài ba tháng là moi tự phân huỷ thành ruốc (mắm tôm). Nước mắm rút từ chum mắm tôm còn ngon hơn, đặc biệt hơn nước mắm chế biến từ cá cơm: dưới đáy chum sành đục lỗ nhỏ, cắm chốt bằng gỗ. Đợi đến lúc hải sản chín thì rút chốt, nước mắm tự chảy ra (gọi là nước mắm rút). Thứ nước mắm vàng óng ánh như mật ong, thơm lừng. Ăn vào cảm nhận được vị ngọt, vị mặn vùng sông nước.
Chú Nam, chú Tửu là những người hay ăn mặn. Mặn như không thể nào mặn hơn. Với nước mắm rút, hai chú cứ múc từng thìa chan vào bát cơm, chén ngon lành. Trai làng lao động mệt nhọc, nấu 5 lạng gạo một mình xơi hết veo. Chú Nam có cách thử nước mắm hay lạ đời: đổ một ít nước mắm vào bát sành, lắc qua lắc lại. “Loại nước mắm ngon, sẽ nhìn thấy nước mắm bám vào thành bát. Còn không, đó chỉ là loại nước mắm thường thôi”, chú bật mí.
Đánh bắt moi (ruốc) vào đêm trăng mới thú. Bì bõm bơi giữa sóng biển đầy ánh lân tinh; gió ràn rạt trên đầu; hơi lạnh của đêm sương tan ra sau từng nhịp chân mãnh liệt. Lô nhô trên lớp sóng bạc màu là lớp moi trôi nổi, chúng uốn mình bắn tung toé lên tóc lên tai. Khi ấy, lưới phải giơ cao trên đầu đón moi lọt vào. So với kéo lưới ban ngày, kéo về đêm là công việc vất vả, khó khăn. Tốn nhiều công sức nhưng lượng moi thu về chẳng được bao nhiêu. Cùng lắm là vài chục kg/ lần đánh bắt.
Nộm moi, chế biến đúng cách của dân miền biển, là món đặc sản. Moi tươi roi rói vừa vớt lên khỏi chân sóng, cho vào nồi luộc chín. Luộc xong đem ra để một lúc cho ráo nước. Khế chua cắt thành từng lát mỏng. Thêm ít lá chanh thái chỉ. Lạc rang vàng giã nhỏ. Tất cả gia vị đem rắc lên moi nấu chín, trộn đều; gia thêm thìa muối. Thế là thành món ẩm thực độc đáo. Nộm moi kẹp bánh đa nướng giòn tan. Be rượu kề môi là thành cuộc nhậu tưng bừng.
Mùa đông giá rét. Và mưa dầm dề. Những con thuyền tấp vào bãi cát tránh gió, phơi mình trên bãi vắng âm u. Cá khô cạn. Thiếu thức ăn. Tôi cùng đám bạn đi bắt cá sông. Con sông nhỏ uốn mình dưới chân núi Hồng Lĩnh chỉ toàn cá vặt: cá mương, cá chép, cá tràu nhỏ bằng ngón tay. Dụng cụ đánh bắt cá là mảnh lưới kẹp chì, buộc vào hai cành tre thành cái xiếc, cứ thế đẩy đi. Đẩy một quãng dăm chục mét thì dừng lại, giơ xiếc lên xem có con cá nào lọt vào không. Bên mình, đứa nào đứa nấy đeo sẵn chiếc oi (giỏ đựng cá).
Lạnh tê tái. Nước sông lạnh ngắt như muôn vàn mũi kim châm vào da thịt. Trên bờ sông, đám tre cũng ướt sũng, xanh mướt trong trận đại hàn. Lũ chúng tôi, đứa nào đứa nấy mặt đen nhẻm, càng đen đúa hơn vì bê bết bùn đất, nước. Vừa bì bõm, hì hục đẩy xiếc vừa thở. Qúa mệt. Nhưng chẳng có cách nào khác. Hoặc là bữa ăn trống không; hoặc ráng thêm chút nữa cho cả nhà có thêm chút cá tươi. Bụng đói cồn cào. Càng lạnh càng đói. Có đứa đói quá vừa đi vừa khóc. Tôi nhìn sang Long Tam, gương mặt nó đầm đìa, không hiểu vì nước sông chan hoà hay vì nhọc nhằn, tủi phận.
Thấp thỏm cơm chiều. O Liên là người nội trợ đảm đang trong gia đình, o luôn ngồi gần nồi để xới cơm cho từng người. Thức ăn chẳng ra gì, càng muốn thêm nhiều cơm. Nhưng gạo thì có hạn. Thậm chí nhiều gạo dự trữ trong chum cũng không dám đưa ra ăn, phòng khi mưa bão kéo dài. Tôi ngồi cuối mâm, trên chiêc ghế thấp lè tè. O Liên khua khoắng một hồi, xới bát cơm lưng chừng. Định trao cho cháu nhưng nghĩ gần nghĩ xa, O đắn đo giữ bát cơm trên tay mấy giây, rồi nhẹ nhàng gạt bớt đi một ít. Xong xuôi, O lại nâng bát cơm lên, ngắm nghía. Nghĩ thương đứa cháu, O lại thêm thắt vài hạt gọi là. Cứ thế, nâng lên, đặt xuống. Cân nhắc. Quyết định. Khuôn mặt o buồn buồn, khổ hạnh. Nét khổ hạnh, buồn đau, dường như đã vận vào o tôi từ lâu.
Đã chịu nhiều đắng cay. Đã gánh nhiều cơ cực. Hình như thế, nên o tôi hay cáu gắt. Đùng một tý là cáu gắt. Nhưng cáu xong rồi thôi, o chẳng để bụng gì đâu. Nên mỗi lần o toáng lên, tôi lẳng lặng, im re, tìm một chỗ khuất ở góc nhà làm gì cho khuây khoả. Sự bực bội không bắt đầu từ sự cố hiện tại, mà có nguyên nhân sâu xa trong thân phận đau thương của một con người. Ai nói ở hiền gặp lành ?. Tôi hoài nghi. Nhiều cuộc đời bên tôi hiền hậu, nhân từ; họ không bao giờ làm điều ác, vậy tại sao vẫn đã phải chịu những mất mát đau thương ?.
Quang Long

