Thursday, September 24, 2026
  • Login
No Result
View All Result
NEWSLETTER
cuonggianonline.com
  • Cương Gián Online
    • Tin tức
    • Đồng hương
    • Chân dung
    • Tâm sự
    • Video-Picture
  • Bạn đọc viết
    • Tâm sự
    • Thơ ca
    • Truyện ngắn
    • Tiểu thuyết
    • Nét quê
    • Phóng sự
  • Sức Khỏe
  • Nghi Xuân
  • Tin tức Nghi Xuân
  • Văn hóa xã hội
  • Thủ thuật
  • Cương Gián Online
    • Tin tức
    • Đồng hương
    • Chân dung
    • Tâm sự
    • Video-Picture
  • Bạn đọc viết
    • Tâm sự
    • Thơ ca
    • Truyện ngắn
    • Tiểu thuyết
    • Nét quê
    • Phóng sự
  • Sức Khỏe
  • Nghi Xuân
  • Tin tức Nghi Xuân
  • Văn hóa xã hội
  • Thủ thuật
No Result
View All Result
cuonggianonline.com
No Result
View All Result
Home Cương Gián Online Chân dung

Bác Hoàng Xuân Đông với nghĩa tình Đất Mẹ

by duyba.vn@gmail.com
July 13, 2010
in Chân dung
0
0
SHARES
0
VIEWS
Share on FacebookShare on Twitter


Bác Hoàng Xuân Đông

Cương Gián – “nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn tuổi thơ tôi”

Nếu ai đã từng đi dọc vùng ven biển miền trung, ghé thăm vùng đất Cương Gián đúng vào đợt gió Lào thì sẽ hiểu được vì sao những con người sinh ra ở vùng đất này lại cứng cỏi, cần cù chịu thương chịu khó và giàu lòng nhân ái như thế. Và cũng dễ dàng hiểu tại sao khi nhắc đến quê hương những người con nơi đây lại nói bằng giọng đầy tự hào “ Cương Gián quê tôi, một làng chài ven biển, suốt bốn mùa nghe tiếng sóng vỗ bờ, sớm nắng chiều mưa, giông bão quanh năm. Cuộc sống của dân chài chúng tôi thường bấp bênh, nghèo khó. Khi chúng tôi bước lên thuyền thì phó thác số phận cho biển, cho trời. Nghề biển được mùa thì ít, mất mùa thì nhiều. Mùa màng được thua tùy vào thiên nhiên và may rủi. Thế nhưng, cha ông chúng tôi đã vượt lên số phận. Cương Gián quê tôi không chỉ tồn tại mà ngày càng phát triển, không chỉ vượt nghèo đói mà biết cách vươn lên làm giàu. Ngày nay quê tôi là một xã anh hùng thời kỳ đổi mới, đời sống kinh tế vào bậc nhất nhì trong tỉnh” ( Lời của Bác Hoàng Xuân Đông ).

Sinh ra trong một gia đình thuộc dạng khá giả lúc bấy giờ. Bố là cụ cố Toại – một trong những người nổi tiếng thời bấy giờ như đã nhắc trong bài “Người Cương Gián năng động” trên cươnggian.com. Cuộc sống gia đình tưởng như hạnh phúc hơn khi bác ra đời, nhưng rồi số phận đã cướp đi người trụ cột trong gia đình. Gánh nặng gia đình đổ dồn lên vai người phụ nữ. Chỉ là một đứa trẻ nhưng bác đã thấu hiểu được những nỗi vất vả của mẹ, cũng như những người phụ nữ ở quê lúc bấy giờ. Gia đình ngày càng sa sút, cuộc sống ngày càng khó khăn, bác đứng nhìn mẹ một mình vất vả, ngày ngày đòn gánh trên vai, chạy ngược chạy xuôi, nay chợ Đình, mai chợ Đạm, có những khi vào tận Can Lộc, Kỳ Anh, lên tận Đức Thọ để bán từng chai nước mắm, từng con cá khô, cá nướng… Để đêm về bác nhìn thấy đôi chân gầy của mẹ sưng vù lên vì cả ngày không giày dép đi trên con đường cát, khi thì nóng bỏng, khi thì lầy lội. Suốt cả một ngày tảo tần, tối về lại nướng từng con cá để kịp buổi chợ sáng mai.

Tẩt cả những hình ảnh đó in sâu vào trí nhớ của đứa trẻ thơ, để rồi xây dựng lên trong tâm hồn một đứa trẻ biết thế nào là tình mẫu tử. Bác tâm sự “có hôm nhà chỉ còn nửa lon gạo, mẹ bác nấu lên và nói rằng đã ăn trên chợ, rồi bước vào nhà trong. Bác chú ý thấy mẹ vào buồng ăn khoai vọt. Bác đứng đó, nước mắt nghẹn ngào nhìn mẹ ăn từng miếng khoai dai và cứng”. Sống giữa vùng đất nghèo nàn nhưng đầy tình yêu thương, đã xây dựng cho bác tuổi thơ đầy nước mắt nhưng cũng lắm nụ cười. Những giọt nước mắt của một đứa trẻ vì thương mẹ một mình cực nhọc chèo chống nuôi con. Nụ cười hạnh phúc của một đứa trẻ vì có một người mẹ “tốt nhất trên đời, có tình yêu con cái bao la và những nghĩa tình với bà con chòm xóm đối với mẹ con bác”.

Nụ cười của những đứa trẻ như bác thời đó là được chứng kiến những giấy phút hồ hởi của nhân dân quê nhà trong những ngày đầu hòa bình lập lại. Vật chất túng thiếu từ cái ăn, cái mặc cho đến đồ dùng học tập nhưng bù bác lại cho rằng bác cũng như những người bạn của bác thời đó được thừa hưởng quá nhiều thứ. Những vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho quê hương, và những trò chơi dân gian truyền thông phong phú của tổ tiên người Cương Gián để lại như: đánh gụ, đánh khăng, chơi vèm đi kinh, đánh trận giả… đó là những giá trị còn lớn hơn nhiều so với những thiếu thốn vật chất.

Con sông Mỹ Dương êm đềm nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn tuổi thơ của những đứa trẻ Cương Gián. Dòng sông xanh biếc, nước mát rượi, uốn lượn quanh mép Hàm Rồng, nơi ấy đã ghi dấu những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ của bác cùng lũ bạn. Những buổi chiều tan học, dưới cái nóng bức của mùa hè, bác cùng mấy đứa bạn hòa mình vào dòng nước mát rượi. Những tiếng cười vang lên hòa vào dòng nước. Có lẽ cũng chính dòng sông êm đềm đó đã in sâu vào tuổi thơ bác để rồi sau này nó trở thành nguồn cảm hứng cho bác.

Bên cạnh dòng sông Mỹ Dương êm đêm là những ngọn núi sững sững với sự tích 99 ngọn núi Hồng Lĩnh. Người con Cương Gián cảm thấy dường như thiên nhiên cũng ưu ái cho mình, với biển cả xanh biếc đầy tôm cá, với dòng sông Mỹ Dương hiền hòa, và những ngọn núi sững sững. Tất cả những cái đó nuôi dưỡng nên tâm hồn của người con Cương Gián, đằng sau cái rắn rỏi, cần cù đó là một tâm hồn đẹp. Đối với những đứa trẻ miền Cương Gián thì “lên rú ăn sim” là một tua du lịch “leo núi” mà không nơi nào có. Bác tâm sự “khi đứng trên đỉnh núi cao nhìn xuống, cảnh vật quê mình như một thế giới thu nhỏ lại. Ở kia là biển, kia là rừng, kia nữa là sông, là đồng ruộng. Ở đấy, với các loài động vật, thực vật của vùng nhiệt đới như lợn rừng, khỉ, chồn, sóc, cáo..,, Tuổi thơ của bác với những cuộc lùng sục khắp hai cái lòi trên và dưới, thuộc lòng từ cây Bứa, cây Chọi, … Đó là những chuyến đi giúp bác khám phá được phần nào thế giới tự nhiên và có thêm vốn sống thực tế”.

Bây giờ khi đã có một chố đứng ở bộ Văn hóa thể thao, hoạt động ở lĩnh vực nghệ thuật bác vẫn luôn cho rằng “chính quê hương là nơi nuỗi dưỡng tâm hồn bác, nếu như không có dòng sông Mỹ Dương êm đềm, không có mé Hàm Rồng, không có những dãy núi cao sững sững, không có tiếng sóng vỗ, không có những câu hát ru của mẹ… thì bác nghĩ bác đã không có khả năng hoạt động ở lĩnh vực nghệ thuật. Cương Gián là nơi nuôi dưỡng tâm hồn tuổi thơ bác”. Để rồi bây giờ khi trên đầu đã điểm tóc sương, ngồi nhớ lại những kỷ niệm tuổi thơ trên đất mẹ yêu dấu bác lại mỉm cười hạnh phúc. Bác đã từng tâm sự, một trong những kỷ niệm tuổi thơ làm bác khó quên nhất:

“Tôi đư­ợc chọn vào đội văn nghệ Nhi đồng xã. Trong đội có các bạn gái nh­ư: Kỳ , Huyên, Tâm…Tôi có “máu ” văn nghệ ngay từ ngày đó. Một hôm, anh phụ trách Thiếu niên – Nhi đồng xã thông báo ngày mai đội bắt đầu tập văn nghệ 3 ngày để phục vụ cuộc mít tinh của xã. Tôi nghĩ rằng, nếu xin phép thầy giáo và mẹ cho nghỉ học để tập múa, hát thì nhất định không đư­ợc, bèn nhờ một đứa bạn xin phép thầy cho nghỉ vì ốm. Còn đối với mẹ thì tôi nói là đi học. Cho đến chiều ngày thứ tư­ tình hình vẫn diễn ra một cách êm đẹp . Đến tối hôm đó, chúng tôi lên sân khấu phục vụ mít tinh. Sau khi toàn đội diễn xong các tiết mục như­: múa “Yêu hoà bình tổ quốc chúng ta”, đồng ca “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” và “Bóng trăng trăng ngà”, tôi lên đơn ca bài “ Chiếc đèn ông sao”. Bài hát đư­ợc vỗ tay nhiệt liệt và yêu cầu hát lại. Cái “máu” văn nghệ lại bốc lên. Tôi nói, em xin hát bài khác. Tôi liền chọn một bài ng­ời lớn cho “oách”, bài “Những ánh sao đêm”.

Vì vội vàng, tôi vào bài quá cao, nên khi đến đoạn có cao độ lớn, tôi ngân đến chữ :xây cho nhà cao thì hết hơi, không thể hát nổi chữ cao mãi . Tôi liền làm nh­ư mình chủ động dừng lại và nói to: nhà cao quá, không thể trèo lên nổi. Mọi ngư­ời vừa c­ười, vừa vỗ tay rất dài và khen hay.

Thật chẳng hay hớm gì cho tôi. Chính vì cái tiết mục “láu cá” đó, đã làm cho ông tr­ưởng Ban tổ chức yêu thích và quan tâm.

Khi đội diễn xong, ông trư­ởng Ban Tổ chức lên phát biểu:

– Thay mặt Ban Tổ chức, tôi nhiệt liệt biểu d­ương Đội văn nghệ Nhi đồng. Đặc biệt là em Đông đã có tinh thần bỏ học để đi tập văn nghệ và đã góp những tiết mục rất hay.

Nghe xong, tôi vừa buồn c­ười vừa lo sợ. Tôi nghĩ, dù có hát hay mấy cũng không bằng sự xấu hổ vì bỏ học và nói dối.

Thật là đen đủi. Tối hôm đó, cả mẹ tôi và thầy giáo lại đều có mặt .

Tối về nhà, mẹ tôi khóc và nói với giọng đầy buồn bực:

– Con học nói dối từ khi mô? Răng lại lừa dối mẹ!

Rồi mẹ tôi doạ sẽ ăn báp m­ớp tự tử.

Tôi quỳ xuống trư­ớc mẹ và hứa sẽ không bao giờ làm nh­ư thế nữa.

Đêm xuống, trời thêm lạnh, tôi vẫn quỳ trư­ớc mẹ. Hồi lâu, mẹ thấy tôi đã biết lỗi, liền đứng dậy, ôm chặt lấy tôi. Tôi khóc và mẹ tôi cũng khóc. N­ước mắt từ một lỗi làm của một đứa con và nư­ớc mắt từ muôn vàn tình th­ương của một ng­ời mẹ trào ra, hoà vào nhau, biến thành niềm tin yêu của tình mẫu tử. Mẹ khuyên tôi từ nay phải chăm chỉ học tập. Mẹ nói rằng, học là để biết làm ng­ười, để biết vạn vật trên đời, để thành ng­ười có ích, giúp mình, giúp ngư­ời, giúp đời…


Tôi nghẹn ngào định nói lại nhưng dường như mẹ đã hiểu được và căt ngang : “ Cuộc đời của mẹ đã quá vất vả rồi, mẹ chỉ mong con học tập để sau này bớt khổ. Một mình mẹ có thể lo được, mẹ không muốn con vì những khó khăn trước mắt bỏ học”. Tôi không biết nên nói gì cả, chỉ biết ôm chặt mẹ hơn. Và cũng từ hôm đó, tôi lại càng cố gắng học tập. Nhiều lúc nhìn bạn bè cùng trang lứa mình đi quệu, kéo rùng bủa lái con, lái sáu… kiếm tiền về cho mẹ còn mình thì chẳng làm được gì phụ mẹ, lại thấy tủi thân và muốn bỏ học. Nhưng rồi, nghĩ đến dáng mẹ tất bật trên con đường nóng rát hết cả chân, tôi lại tiếp tục đi từng bước chân trên con đường lên huyện để học. Cứ thế đằng sau những bước chân của tôi đi là những bước chân mẹ tảo tần không mệt mỏi”.

Và rồi mọi cố gắng của bác cũng đã được đền đáp, bác trở thành anh sinh viên Học viện Thủy lợi – Điện lực. Những năm tháng sinh viên bắt đầu khá vất vả, bắt đầu cuộc sống của mình với biết bao nhiêu nghề để trang trải cho cuộc sống. Sinh ra ở một vùng quê miền trung nghèo khó dường như đã tôi luyện cho bác tính cần cù, chịu khó. Mang theo trong mình hình ảnh làng chài nghèo khó, hình bóng mẹ trên bãi cát dưới trời nắng chang chang… Bác lại càng có thêm nghị lực để học tập. Bác cho rằng, đối với bác, cái nghị lực trước hết khi đó là chiến thắng được “căn bệnh nhớ nhà”. Bác tâm Sự: “Thật là lạ Trên đời này, việc gì trải qua nhiều lần cũng quen. Thế nh­ưng riêng cái nhớ nhà thì chẳng có quen. Càng xa lâu càng nhớ nhiều. Thì ra, cái mà trư­ớc kia tôi th­ường nói nhớ nhà, chính là nhớ quê h­ương. Đã là quê hư­ơng thì ai mà chẳng yêu, chẳng nhớ, đúng nh­ư một nhà thơ đã viết: “ Quê h­ương là gì hả mẹ, Mà ai đi xa cũng nhớ nhiều”. Bác coi quê hư­ơng là chỗ dự tinh thần của đời mình và tôn trọng danh dự quê hư­ơng hơn cả bản thân, đúng như­ tục ngữ có câu: chửi cha không bằng pha tiếng. Bác kể rằng, ngày học ở Học viện Thuỷ lợi – Điện lực, đội văn nghệ khoa bác đ­ược nhà trư­ờng chọn đi diễn cho một hợp tác xã ở ngoại thành. Bác đèo một túi đạo cụ và một cô bạn cùng lớp ng­ười Hà Tĩnh. Mải chú ý tránh một chiếc xe bò, không may, xe đạp của bác đâm vào xe đạp của một tốp thanh niên đứng bên đư­ờng, làm gẫy mất mấy chiếc nan hoa của họ. Bác xuống xe xin lỗi và xin bồi thư­ờng. Chúng không chịu và đòi lấy đứt chiếc xe của bác. Rồi sau đó, cả lũ xông tới. Một đứa trong bọn chúng hùng hổ túm lấy áo và đấm thẳng vào mặt bác. Rất may bác tránh đ­ược. Bị lỡ đà, tên đó ngã nhào xuống đ­ường. Biết tin, ngư­ời dân làng này kéo đến mỗi lúc mỗi đông. Nhiều ngư­ời đã lên tiếng phản đối những hành vi ngang ngư­ợc của chúng, như­ng bọn chúng không thèm nghe. Khi nhìn thấy mấy đứa thanh niên mặt mày dữ tợn vây quanh cô bạn gái, bác liền nói to:

“- Việc này, do tôi tự gây ra, muốn đánh, muốn giết cứ nhằm vào tôi, không ai đ­ược động đến bạn tôi, cô ấy không liên quan gì cả!”

Một cú đấm rất mạnh vào ng­ười bác. Bác cố nhịn và không đánh trả. Cô bạn gái không chịu nổi những hành vi thô bạo của chúng, liền thét to:

“- Lũ quỷ! Không đ­ược động đến anh ấy!”

Một gã to béo, nắm lấy cổ cô ấy, và nhệch cái mồm lại, bắt ch­ước câu nói của cô bằng giọng Hà Tĩnh. Bị kẻ khác xúc phạm đến quê hư­ơng, Giận quá, bác liền lao tới và quật ngã cái tên vô lại đó xuống đất. Bọn chúng rồ lên và xông đến, miệng la hét: đánh…đánh, đánh chết chúng nó đi!

Bác thấy tai hoạ sắp giáng xuống. Chợt trong đầu thoáng nghĩ ra một giải pháp, bác liền nhanh chóng mở cái túi đạo cụ và rút ngay ra một khẩu súng ngắn, miệng quát to:

“-Đứa nào xông đến tao bắn vỡ sọ!”

Cả lũ thấy súng hoảng sợ, vừa tháo chạy, vừa kêu la: súng… súng…, nó có súng…..

Hai ng­ười lên xe và phóng thật nhanh cho kịp thời gian biểu diễn. Bác nói với ngư­ời bạn gái:

“-Thật may. Nếu không có cái khẩu súng giả diễn kịch thi hôm nay chúng mình đã bị chúng ăn thịt rồi.”

Dường như bác nhìn thấy ánh mắt không hiểu ý nghĩa câu chuyện bác vừa kể trong ánh mắt của tôi, bác lại nhẹ nhàng giải thích. “Sau sự việc hôm đó bác nhận ra rằng con người ta sinh ra và lớn lên được sự giáo dục, đào tạo, thử thách qua nhiều môi trường như : trường học, bạn bè, thực tiễn xã hội… nhưng có lẽ gia đình, quê hương là những trường học tối quan trọng trong việc đào tạo làm người cho các thành viên xã hội. Nếu coi gia đình là một trường học giáo dục, rèn luyện con người cơ bản về tính chân, thiện, mỹ – một công đoạn chế tác “phần thô” thì quê hương có thể nói là một trường học, công đoạn chế tác “phần tinh” để làm cho con người được hoàn thiện mọi mặt. Bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Đỗ Trung Quân được nhiều người yêu thích, bởi trong đó có một phần triết lý :

“ Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người”

Nếu ai hỏi bác một câu “ Điều bác thấy hạnh phúc nhất là gì?” thì bác có thể nói ngay một câu “ Bác hạnh phúc, hạnh phúc vì là người con của Cương Gián. Nơi đó ghi dấu tất cả những kỷ niệm hạnh phúc nhất của bác, nơi đã sinh ra bác và nuỗi dưỡng bác nên người”.

“Tình đất mẹ” và người con báo hiếu

“Mẹ tôi được sinh ra trên mảnh đất đó – mảnh đất được tinh luyện qua thử thách của dông tố dữ dằn, được bồi đắp bằng vị ngọt của tình yêu và vị mặn của mồ hôi bao đời của người dân Cương Gián”.

Thực hiện lệnh Tổng động viên của Hồ Chủ tịch , bác tham gia nhập ngũ. Ngày 22/12/1965 bác chính thức trở thành anh bộ đội cụ Hồ, chiến đấu bảo vể Tổ quốc. Đối với bác, cái ngày đó đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời. Những ngày tháng sinh viên khép lại thay vào đó là những kỷ niệm trên chiến trường ác liệt.

Vốn có năng khiếu về văn nghệ nên sau khi học xong lớp đào tạo 6 tháng của Trường Sĩ quan Công binh, bác được điều động về làm trợ lý văn hóa văn nghệ tại một trung đoàn, rồi được cử làm Trưởng đoàn một đoàn nghệ thuật xung kích thuộc Bộ tư lệnh Công binh, rồi về Đoàn nghệ thuật quân đội, bác đi đến từng con đường, trận địa, từng mâm pháo, có mặt ở các chiến trường: A,B,C, đặc biệt là con đường Trường Sơn huyền thoại, con đường đầy gian lao nhưng thật oanh liệt và hào hùng.

Bác kể rằng: “”để tới được các điểm biểu diễn, chúng tôi phải vượt qua những chặng đường mà trên mặt đất địch rải đầy mìn lá . Loại mìn này rất khó phát hiện, vì hình thù, màu sắc của nó chẳng khác gì một chiếc lá khô. Chẳng may dẫm vào nó thì phải tháo ngay khớp chân, nếu chậm trễ, chất độc ngấm vào cơ thể sẽ bị tử vong. Một loại vũ khí khác không kém phần nguy hiểm. Đó là loại mìn vướng nổ. Nó được treo lơ lửng trên cành cây, với nhiều sợi giây cảm ứng. Chẳng may chạm phải đầu dây mìn sẽ phát nổ. Chưa đủ. Bọn địch lại còn sử dụng loại vũ khí thăm dò gọi là cây nhiệt đới. Loại này được cắm trên mặt đất. Hễ phát hiện được tiếng động là chúng báo tín hiệu lên máy bay ném bom. Chưa hết. Chúng còn thả loại bom từ trường, chôn dưới mặt đất. Nếu bị nhiễm từ các chất kim khí, bom sẽ phát nổ. Vừa nguy hiểm, vừa mất thời gian nhất là phải cảnh giác với quân địch ở trên không. Ban ngày, chúng cho loại máy bay thám thính gọi là OV10 bay vè vè suốt ngày. Hễ phát hiện được mục tiêu là phóng ngay một quả pháo khói xuống đó, để chỉ điểm cho các máy bay lao xuống ném bom. Ban đêm thì chúng dùng loại máy bay B56K để thả pháo sáng.”

Để phục vụ bộ đội, bác cùng đoàn, đã nhiều lần vượt qua các địa danh nổi tiếng ác liệt ngày đêm không ngớt những trận mưa bom, những cơn bão lửa trên đường mòn Hồ Chí Minh với những cái tên như Cua chữ A, Tum Ru, Tha Mé. Đường Chín, Nam Lào …. Giữa chiến trường ác liệt, những tiếng hát của Đoàn văn nghệ như xoa bớt đi những mất mát và thiếu thốn, khích lệ tinh thần yêu nước của các chiến sĩ. Và rồi ở cái nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh ấy, bỗng dưng được nghe một tiếng “Vơ Đông!”, quay lại và nhận ra người con quê mình mới thấy ý nghĩa và hạnh phúc biết bao. Những kỷ niệm đó cứ theo chân bác trên khắp các chiến trường, và rồi những lúc nhớ nhà, nhớ quê hương nghĩ lại những kỷ niệm rồi mỉm cười một mình.

Với trái tim đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ bác đã hiến dâng toàn bộ tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp “Chống Mỹ cứu nước” cho đến ngày thắng lợi. Thống nhất đất nước, bác được Nhà Nước cho đi đào tạo chính quy về Nghệ Thuật bên Liên Xô ( cũ ). Với dự định học xong về nước sẽ tiếp tục hoạt động sáng tác để phục vụ đất nước. Nhưng về nước thì Bộ văn hóa ( nay là Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch ) lại đề nghị bác về Bộ vừa làm công tác lãnh đạo Văn phòng Bộ, vừa hoạt động sáng tác. Nhiều năm làm lãnh đạo tại Văn phòng Bộ, nhưng dường như cái nghiệp sáng tác vẫn không rời bác. Những tác phẩm âm nhạc như: Quê hương Lenin ( sáng tác thời kỳ bác học ở Nga ), Hà Nội sang xuân, Tình yêu và Biển cả, Trăng thu giếng làng,… Bài “ Bài ca người chiến sĩ Công binh” là bài hát đầu tay của bác, được nghệ sĩ ưu tú Hoàng Chè lúc đó là một đơn ca của đoàn hát, phục vụ bộ đội chiến đấu trong thời kỳ chống Mỹ. Có lẽ đó là tác phẩm để lại trong bác những kỷ niệm và ấn tượng sâu sắc nhất. Đó là tác phẩm mà bác viết về mình, về các đồng đội của mình, vừa cầm súng vừa cầm bút. Luôn mang trong mình hình bóng quê hương, mảnh đất đầy ân tình. Bác còn nhớ như in kỷ niệm mà mẹ bác đã kể, “ Một lần, mẹ đi ăn giỗ về, lấy từ trong túi áo ra một nắm xôi, một miếng thịt gà. Tôi reo lên:

  • Mẹ là người tốt nhất trên đời!
  • Mẹ tôi nói:
  • Con còn có một người mẹ tốt hơn.
  • Ai hả mẹ? Tôi hỏi
  • Bà con làng xóm.

Rồi mẹ kể rằng, tôi được sinh ra vào một đêm dông bão. Ngoài trời tối như bâng, sấm chớp ầm ầm, gió mưa gầm rú, làm đổ nhiều cây phi lao cổ thụ. Bà con xóm giềng nghe tin mẹ sắp sinh, không quản nguy hiểm kéo đến chật nhà. Mấy bác đàn ông thì trèo lên mái nhà sửa lại những viên ngói bị tốc và giằng chặt lại mái để ngói khỏi bay. Các bác gái, người thì gọi bà đỡ, người thì nấu nước, têm trầu… tấm lòng bà con dành cho mẹ con mình thật không biết tính đến đâu cho xuể. Con hãy nhớ rằng, nơi cái rốn, nắm rau của con được chôn, chính là mảnh đất đã sinh ra mẹ, ra các bác, các ông, các bà đầy nghĩ tình và nhân hậu đó. Sau đó, dần dần tôi nhận thức ra quê hương là người mẹ thứ hai:

“Một cho con trái tim mạnh mẽ

Tình yêu quả cảm và niềm tin

Một nuôi con truyền thống thế hệ

Khúc đồng quê, điệu hát huê tình

Khúc nhạc chèo nhịp sóng bình minh”

Và cũng kể từ đó bác luôn mang trong mình hình bóng hai người mẹ. Và cũng giống như bao người con khác, cứ đi xa lại thấy nhớ nhà, một cảm giác lâng lâng, trào dâng kỳ lại, mà đâu chỉ có nhớ mẹ, nhớ mái nhà, mà còn nhớ cả từng con đường, lối đi, nhớ cả biển xanh và những cánh đồng lúa vàng”. Và tất cả những điều đó vẫn luôn mang theo bên cạnh bác, để rồi vào một buổi chiều hè trên đường đi công tác, bác ghé thăm nhà. Khi xe đi đến cầu Rạo, bất chợt bác lại nhớ đến kỷ niệm thời còn nhỏ “ một lần mẹ đi chợ Đạm, tôi lẽo đẽo them sau. Đến chiếc cầu này, mẹ nhìn tôi âu yếm và bảo: Con ngoan, hòn rọt của mẹ, hãy về nhà đi. Thấy tôi khóc mẹ lại dỗ: Chiều về, mẹ sẽ mua cho một gói kẹo bao to và nhiều bánh đùm. Rồi mẹ đi thật nhanh cho kịp phiên chợ, tưởng chừng như chân trước của mẹ chưa kịp chạm đất, chân sau đã bước tới. Tôi đứng lại và ngóng theo, đến khi lưng mẹ khuất hẳn sau rặng cây mới quay về”. Đứng trên chiếc cầu, bỗng dưng những cảm xúc trào dâng, nhớ mẹ, thương cả một đời tần tảo nuôi con, lại vui mừng khi được đặt chân về đất mẹ, xúc động quá, bỗng nước mắt tôi trào ra. Và rồi bác thì thầm “một chiều hè, con về thăm quê mẹ….”, và như thế là bài hát “Tình đất mẹ” ra đời.

“Tình đất mẹ”, bài hát đã chinh phục được trái tim bao nhiêu đọc giả, đã được hội đồng âm nhạc Đài THVN duyệt, dàn dựng và phát sóng với sự thể hiện của ca sĩ Anh Thơ. Từ giai điệu đến lời ca, như là dòng tâm sự của một người con nhớ về đất mẹ đầy ân tình. Để rỗi làm cho mỗi người con xa quê mỗi lần nghe như có cảm giác tác giả đang trút hết những tâm sự của họ, và rồi thầm mong đến cái ngày được trở về ôm lấy mảnh đất quê hương đó.

Bác đã từng tâm sự rằng : “sự thành công trong việc sáng tác các bài hát về quê hương, một phần quan trọng là nhờ tích lũy được phần nào vốn truyền thống của Cương Gián. Một lời hát ru của mẹ, một điệu hò đẩy nôốc “Quay hò quya trặc” của các sợ, bạn lái mười, một giọng “hò Lơ” hay một câu hát “Tôm tàng tôm tít” của em nhỏ. Đó là những chất liệu vô giá mà quê hương đã dành cho tôi, cái đằm thắm mượt mà cộng với cái rộn ràng nhịp nhàng của vùng quê anh hùng trong thời kỳ đổi mới. Và đó cũng chính là âm điệu chính của bài “Cương Gián ca” . Bài hát đã được các ca sĩ của một nhà hát Quốc gia nổi tiếng “ Nhà Vũ Kịch Việt Nam” thể hiện.

Ngòi bút và quà tặng quý giá dâng ngày đại lễ

Năm 2010 cả nước sẽ tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Khi hỏi bác với c­ương vị là Phó Tr­ởng Ban Tổ chức “Cuộc thi sáng tác tác phẩm văn học nghệ thuật Toàn quốc kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội” bác sẽ có những dự định gì? Bác nói rằng: “Tôi sẽ làm hết trách nhiệm của bản thân để góp một phần nhỏ bé của mình cùng với Ban Tổ chức, các văn nghệ sĩ cả n­ước tạo ra đư­ợc những tác phẩm nghệ thuật chất lư­ợng cao phục vụ ngày Đại lễ của dân tộc”.

– Đ­ược biết bác là ng­ười cứu chùa Một Cột. Đấy chính là món quà quý giá dâng ngày đại lễ. Bác có thể nói rõ thêm!

Bác nói rằng, trong cuộc đời hoạt động, riêng về khía cạnh làm báo, tôi có nhiều lần đã “hoá thành” như­ ngư­ời “tử vì đạo”. Ví dụ như­ việc tố cáo vụ phá phách Khu di tích Thành Lam Kinh ở Thanh hoá, tôi đã có bài : “Hãy ngăn chặn ngay việc đào bới Thành Lam Kinh” đăng trên báo Nhân dân Chủ nhật năm 1989…Trư­ớc khi đâng bài này, tôi cũng đã nhận đ­ược những thông tin cản trở từ những đơn vị liên quan . Đặc biệt phức tạp là vụ việc Chùa Một Cột. Mặc dầu tôi biết tr­ớc điều bất lợi có thể xẩy ra với tôi, nh­ng vì sự sống còn của một di sản vô giá của dân tộc, tôi đã đứng lên tố cáo việc phá bỏ Chùa Một Cột ở Hà Nội qua bài “Chùa Một cột kêu cứu” đăng trên báo “Văn hoá – Thể thao” của Thông Tấn xã Việt Nam năm 1987. Bài báo đã đ­ược công luận cả nư­ớc hết sức đồng tình và ủng hộ. Sau bài báo, nhiều ngư­ời đã lên tiếng đòi đình chỉ ngay việc phá chùa Một Cột. Kết quả, bài báo đã cứu được Chùa Một cột.

Cương Gián, làng việt cổ xưa và nay

Nhìn lại lịch sử của quê hương mỗi người con lại cảm thấy tự hào về các thế hệ cha ông đi trước, vui mừng về những thành tựu của thế hệ hôm nay. Một Cương Gián xưa với những di tích lịch sử lâu đời, những giá trị văn hóa vật thể như: đền, chùa, nhà cổ, di vật và các gia trị văn hóa phi vật thể như ngành nghề truyền thống, phong tục tập quán, lễ hội, các trò chơi dân gian, múa hát cổ truyền. Những giá trị văn hóa đó đã được cha ông bao đời làm nên, được bao thế hệ người Cương Gián bồi đắp, giữ gìn. Đặc biệt là tiếng Cổ CƯƠNG GIÁN, một thứ ngôn ngữ độc đáo, còn giữ lại được nhiều âm tố cổ của tiếng Việt. Những nguyên âm chính như “ôô, oo, ..” ( cấy đôộc – cái rạ, trôốc – đầu, …) , hay là những âm đầu “dj” ( djà – nhà.. ),… đã bị mai một nhưng người dân Cương Gián vẫn giữ được nó. Đây là một tài sản đáng quý của quê hương, mang bản sắc văn hóa Cương Gián. Và hôm nay, thế hệ trẻ đã biết làm giàu cho quê hương trong thời kỳ đổi mới, những con người trẻ tuổi đã biết hy sinh tình cảm cá nhân, xa bố mẹ, vợ chồng để lao động kiếm tiền nuôi bố mẹ, con cái. Họ phải nghỉ học, chọn cho mình con đường đi xuất khẩu lao động để kiếm tiền nuôi các em, nuôi con cái đi học. Nếu không có thế hệ đó, không có những người hy sinh bản thân mình có lẽ quê mình khó mà có được số lượng học sinh, sinh viên đông đảo như hiện nay. Là một người con của Cương Gián, luôn đau đáu trong lòng phải làm một việc gì đó cho quê hương. Và rồi trong một lần nhận viết kịch bản phim tài liệu về đề tài quê cha đất tổ cho một hãng phim, bác chợt nảy ra ý định làm bộ phim về Cương Gián mang tên “Cương Gián, làng Việt cổ xưa và nay”.

Khi được hỏi về bộ phim, bác mỉm cười và nói giọng đầy tự hào: được lắm chứ! Quê mình là mảnh đất quy tụ nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, dân tộc và ngôn ngữ của Đất Việt. Các giá trị đó đã tạo nên nét đặc trưng một làng quê Việt Nam. Các giá trị đó cần được bảo vệ, giữ gìn, khai thác và tôn vinh. Một nội dung nữa mà bác muốn khai thác đó là khẳng định vị trí của thế hệ người dân Cuơng Gián ngày nay, trong một tiến trình lịch sử hình thành và phát triển làng xã Cương Gián. Đó là một thế hệ đã đưa Cương Gián lên vị trí một xã được nhà nước tôn vinh Anh hùng trong thời kỳ đổi mới, một trong những xã có đời sống kinh tế xã hội cao trong cả nước mà hàng mấy thế kỷ qua chưa có được. Thế rồi bác nhanh chóng bàn với Ban liên lạc Hội đồng hương Cương Gián tại Hà Nội và chính quyền xã về việc xây dựng bộ phim này. Được hội hương và chính quyền xã nhất trí, bác đã nhanh chóng hoàn thành kịch bản. Nội dung đã đuợc nhất trí tại cuộc họp do Đảng Ủy, Hội đồng nhân dân, UBND xã tổ chức với sự có mặt của các bí thư chi bộ, trưởng phó các thôn, Hội người cao tuổi, cán bộ hưu trí, các trưởng họ, đại diện các ngành, đoàn thể. Hiện nay bộ phim đang chờ kết quả xét duyệt đầu tư ngân sách là tiến hành quay”.

Bên cạnh niềm tự hào về thế hệ trẻ hiện nay, Bác cũng như tất cả những mọi người đều quan tâm và có phần lo lắng cho thế hệ trẻ ở quê hương hiện nay bởi xuất hiện những hiện tượng không lành mạnh. Người Cương Gián mình với truyền thống cần cù chịu thương chịu khó, nhưng dường như những đồng tiền của người nhà lao động ở nước ngoài gửi về đang làm hư đi thế hệ sau này. Đây đã không còn là việc của riêng từng gia đình nữa mà có lẽ địa phương cũng cần có biện pháp, giáo dục, định hướng cho các cháu biết được quý trọng những thành quả của những người thân lao động vất vả ở bên kia.

Như một lời nhắn nhủ với thế hệ trẻ, những con người được sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống và đầy ân tình, bác nói:

“Ngậm ngợi chặng đường đã qua, nhiều điều tôi còn luyến tiếc. Chặng đường đẹp nhất cuộc đời là tuổi trẻ, tôi chưa gắng hết sức để làm được những điều có thể làm được. Thời gian là của cải quý giá nhất trên đời, tôi còn lãng phí chưa trân trọng đúng mức để biến nó thành của cải cho mình. Tôi mong rằng bạn trẻ ngày nay, đừng để sau này còn luyến tiếc như tôi”.

Huỳnh Thu Huyền

duyba.vn@gmail.com

duyba.vn@gmail.com

Next Post

Mẹ tôi

Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Recommended

Nghi Xuân – Xe 54 chỗ chở… hơn 100 HS đến trường

16 years ago

21 năm, 6 tháng tù giam cho 4 kẻ cướp của, hiếp dâm

16 years ago

Popular News

  • Về vùng đất kể chuyện bằng di sản

    Về vùng đất kể chuyện bằng di sản

    0 shares
    Share 0 Tweet 0
  • Ngôi mộ chưa di dời và cuộc tranh chấp kéo dài hơn hai thập kỷ

    0 shares
    Share 0 Tweet 0
  • Hành tăm giá tốt, nông dân đội nắng thu hoạch

    0 shares
    Share 0 Tweet 0
  • Nhanh chóng dập tắt lửa rừng ở Nghi Xuân

    0 shares
    Share 0 Tweet 0
  • Rác thải bủa vây đê hữu sông Lam

    0 shares
    Share 0 Tweet 0

Connect with us

Cương Gián Online 2008-2026

Cương Gián Online là trang thông tin dành cho người dân Cương Gián trong và ngoài quê hương, nơi chia sẻ tin tức, hình ảnh, văn hóa, con người và những câu chuyện về quê nhà.

  • Contact
  • Home 1
  • Home 2
  • Home 3
  • Home 4
  • Home 5

© 2026 JNews - Premium WordPress news & magazine theme by Jegtheme.

Welcome Back!

Login to your account below

Forgotten Password?

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In
No Result
View All Result
  • Cương Gián Online
    • Tin tức
    • Đồng hương
    • Chân dung
    • Tâm sự
    • Video-Picture
  • Bạn đọc viết
    • Tâm sự
    • Thơ ca
    • Truyện ngắn
    • Tiểu thuyết
    • Nét quê
    • Phóng sự
  • Sức Khỏe
  • Nghi Xuân
  • Tin tức Nghi Xuân
  • Văn hóa xã hội
  • Thủ thuật

© 2026 JNews - Premium WordPress news & magazine theme by Jegtheme.