Chữ “Bát cảnh” xuất hiện sớm nhất trong bài Nghi Xuân phong thổ thi của Bùi Dương Lịch: Bát cảnh liêu nhân tả diễm từ – tám cảnh nên thơ đáng vịnh đề, và trong bài Nghi Xuân phong thổ vịnh của Nguyễn Hành(3): Bát cảnh trường lưu thiên cổ thưởng – Tám cảnh nghìn thu lưu giữ mãi. (VHH dịch)
“Tám cảnh” được sắp xếp theo thứ tự, từng cặp đối nhau: Mở đầu là hai bức tranh:
– Hồng Sơn liệt chướng (Núi Hồng thành dựng)
– Đan Nhai quy phàm (Bờ sông buồm về)
Hồng Sơn, tức Hồng Lĩnh, tục gọi Ngàn Hống, xưa được coi là một trong 21 danh sơn nước Việt, cùng với sông Lam là biểu tượng của xứ Nghệ, Nghệ – Tĩnh. Núi Hồng 99 ngọn, mỗi ngọn là một thắng tích, từng được ghi vào điển thờ triều Nguyễn, và khắc hình lên “Anh đỉnh” ở Kinh đô Huế.
Còn Đan Nhai, sách cổ chép Đơn hay Đan Thai, là xã Hội Thống bây giờ. Đan Nhai hải môn là cửa Hội, cửa sông Lam (Ngàn Cả) chảy giữa Nghi Lộc, Nghi Xuân. Sách Nghi Xuân địa chí của Lê Văn Diễn mô tả: “Những tháng cuối xuân sang hè, trời nắng tạnh, các loại thuyền đánh cá lớn nhỏ, cùng với thuyền buôn từ Bắc đến, vào cửa sông có hàng mấy trăm chiếc. Buồm thuyền no gió, dập dờn qua lại hàng đàn…khác nào như đàn bướm đang vờn hoa, bầy cá đang vờn nước…thật là một nơi thắng lãm hiếm có…”(4)
Hồng Sơn – Đan Nhai là hai bức tranh toàn cảnh Sơn – Hải (thuỷ) rộng lớn. Còn hai bức Song Ngư hý thuỷ (Cá đôi dỡn nước), Cô Độc lâm lưu (Nghé lẻ lội sông) là trích từ hai bức tranh lớn ra, nói về hai cảnh “sơn thuỷ” cụ thể, nhỏ xinh như hai hòn non bộ…
Song Ngư – Hòn Ngư, Ngư đảo ở phía ngoài cửa Hội, cách bờ 5 km, nay thuộc huyện Nghi Lộc Nghệ An. Đảo dài khoảng 1500m có hai đỉnh cao 108m và 128m, do đó nhìn từ xa giống như hai con cá đùa dỡn giữa sóng nước. Vua Lê Thánh Tông, trong bài thơ vịnh Đan Nhai hải môn (cửa Hội) có câu: Đoạn tục Song Ngư tử thuý diên – Biếc xanh đứt nối ngọn Song Ngư. (VHH dịch)
Cô Độc là trái núi nhỏ nằm tách riêng ở mé sông Lam, thuộc nhóm Ngũ mã trong dãy Hồng Lĩnh. Do hình núi nên dân gian tưởng tượng ra là “con nghé lẻ loi sắp lội xuống sông” (Cô độc lâm lưu). Núi còn có tên là Khu độc (con nghé đang nhảy). Dân địa phương (xã Xuân Hồng) gọi là núi Bà, có lẽ là vì ở Tháp Sơn, gần đó, có đền thờ bà chúa Liễu(?). Trên đỉnh núi, có tảng đá lớn, mặt rộng gần trượng, giữa có một lỗ sâu, gọi là “Đá Cối”. Tương truyền đó là “dấu tích Ninh quận công Trịnh Toàn (TK XVII) giã gạo quân lương”.
Cặp đối thứ ba là một bến đò, một cánh bãi trên sông Lam: Giang Đình cổ độ (Bến cổ Giang Đình) – Quận mộc bình sa (Bãi bằng Quần Mộc).
Giang Đình là bến đò có từ xưa, gọi là đò Tả Ao (thuộc làng Tả Ao), trên bến là chợ Tả Ao. Hồi Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, thân sinh thi hào Nguyễn Du, về nghỉ việc quan, người ta dựng Giang Đình(5) trên bến để đón rước, mở hội ăn mừng. Để ghi sự kiện làm vinh dự cho địa phương, người ta đổi tên bến đò (và tên chợ) thành Giang Đình. Về sau, Nguyễn Du nhắc lại việc này trong bài thơ Giang Đình hữu cảm:
Ức tích ngô ông tạ lão thì,
Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi…
(Nhớ cụ ta khi cáo lão về,
Mé sông này rộn ngựa cùng xe…(TKĐ dịch)
Còn Quần Mộc là phiên âm từ tên Nôm Cồn Mọc là bãi sa bồi, đất tốt cây rậm. Ngôi làng trên bãi bồi này cũng gọi là Quần Mộc, sau đổi là Báu Lâm (Rừng cây quý), thuộc tổng Xuân Viên, nay là xã Xuân Giang. Sách Nghi Xuân địa chí chép: “Cồn Mọc, bãi chiến trường ngày xưa… Hồi đó, quân Đàng Trong và Đàng Ngoài đánh nhau ở đây… Trước đây hàng năm đến kỳ hạch huyện để tuyển chọn học trò đi thi, thường đặt thi ở chỗ này. Triều Tây Sơn, vùng này được đắp thành luỹ…”(6).
Cuối cùng là một cảnh chùa và một cảnh chợ:
Uyên trừng danh tự (Chùa đẹp Uyên Trừng) và Hoa Phẩm thắng triền (Chợ lớn Hoa Phẩm).
Uyên Trừng, tên tục là chùa Dằng, trên rú Dằng (Uyên Trừng Sơn) phía tây dãy Hồng Lĩnh, thuộc xã Tam Đăng hạ (sau là Tam Xuân hạ, nay là Xuân Hồng). Uyên Trừng là gọi theo tên núi, tên địa phương, còn tên chùa chính thức là Hoa tạng, từ thời Thiệu Trị, kiêng huý, đổi là Ba Tạng. Đây là ngôi chùa lớn, truyền lại dựng từ thời Lý (nay không còn). Sách cổ đều chép: “…Phía trước chùa là sông Lam, núi Hồng bao quanh ba mặt, phong cảnh thanh u tĩnh mịch”. Phía trước chùa có khe, có cầu, có am viện, có ai đá, do nước suối ở núi chảy vào…”. “Bên chùa là nơi sư ở… Xưa nay du khách đã ngâm vịnh chùa này nhiều. Thật là một nơi già lam bậc nhất”.
Còn chợ Hoa Phẩm tức chợ Chế, ở xã Tam Chế, sau đổi thành Hoa Phẩm, rồi Quả Phẩm, nay là xã Xuân Lam. Ngày trước chợ ở sát chân núi. Đời Lê, táng mộ Lý Nguyên Phi ở núi Na, nên dời chợ xuống gần khu đất giáp sông Lam. Vua Lê Thánh Tôn (1442 – 1497) trong bài thơ Nôm Vịnh làng Chế, có mấy câu nói về chợ Chế:
… Chợ họp bên sông gẫm có chiều,
Thuyền bày trên đất xem nhiều thể (vẻ).
Cảnh vật bằng đây hoạ có hai…
*
Các cảnh trên đây, trước sau Bùi Dương Lịch đều đã có nhiều người ngâm vịnh. Nhưng chỉ có (hay chỉ mới thấy) ông Bùi làm đủ tám bài. Như ta biết qua ốc lậu thoại thi văn (Thơ văn trong ngôi nhà dột), ông là nhà thơ viết nhiều, viết giỏi thơ vịnh cảnh. Trong chùm thơ Nghi Xuân bát cảnh cũng vậy, đằng sau những câu tả cảnh, tả việc là tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước; qua những lời hoài niệm việc cũ, người xưa, thường gửi gắm một ý tưởng, một tâm sự.
Rất nhiều tao nhân mặc khách đã làm thơ về Hồng Lĩnh, Đan Nhai…
Ông Bùi cũng nói đến “99 ngọn” trùng trùng la liệt về thế cao, vững “chống đỡ vòm trời”, nhưng ông chỉ khái quát bức tranh toàn cảnh màu xanh trong Hồng Sơn liệt chướng: “Sắc biếc toả rộng một vùng cốt đất cứng rắn; màu xanh trải dài hai mái núi, địa thế hùng vĩ”:
Nhất phương ưng thuý khôn duy hậu
Lưỡng diện bài thanh địa thế hùng.
Về đất Đan Nhai, biển Đan Nhai, thì ông chớp lấy “ánh nắng chiều, khi mỗi buổi thuyền về, từ khơi xa trông vào bờ, thấy một vùng đỏ ối” để mở đầu bài thơ Đan Nhai qui phàm, gây ấn tượng mạnh mẽ: Tịch chiếu lưu hà vạn khoảnh đan. Son hừng muôn dặm ráng chiều sa. (TKĐ dịch).
Những câu thơ tả cảnh ở các bài khác cũng vẫn là những nét phác hoạ đơn sơ mà nói được cảnh thật:
Sổ lý bình sa mục nhất quần.
Tiên khách âu phù than ngoại túc…
(Vài dặm bình sa nghé một bầy.
Ngoài bãi chim trời về nghỉ trọ).
(Quận mộc bình sa – VHH dịch).
…Sơn tu, hải thiếp đông tây tập,
Kinh khách, Thanh hương sạn các xa.
(Của rừng, của biển đông tây đủ.
Người Huế, người Thanh phố xa đầy).
(Hoa Phẩm thắng triền – VHH dịch).
Cũng trong bài Hoa Phẩm thắng triền còn có hai câu:
Chiến tướng binh trường mai túc vụ
Thuần Hoàng thánh chế lặc nham hoa.
(Binh trường chiến tướng sương đêm phủ
Thánh chế Thuần Hoàng hoa núi ghi ) (TKĐ dịch).
Câu trên nhắc việc Ninh quận công Trịnh Toàn từng đóng quân ở vùng này khi ông vào đánh quân Nguyễn (1655 – 1656). Câu dưới nói về bài thơ Vịnh làng Chế của vua Lê Thánh Tôn Thuần Hoàng đế làm trên đường đi đánh chúa Chiêm Thành qua đây năm 1470.
Lại còn những câu thơ ‘hoài cổ” trong các bài khác:
Thụ xung Trần tử cựu thời phong
(Vườn xưa Trần tử cây rung gió)
(Hồng Sơn liệt chướng – VHH dịch).
Trần Tử, tức Bảng nhãn Trần Bảo Tín, khi Mạc Đăng Dung lên làm vua (1527), ông bỏ quan về quê ở xã Yên Lạc, Nghi Xuân, rồi lên ẩn trên ngọn Lân Sơn (Rú Lần, trong dãy Hồng Lĩnh), do đó Lân Sơn cũng còn được gọi là Trần Sơn.
Và Giang Đình thắng hội tiền triều sự,
(Giang Đình hội rước triều vua trước – VHH dịch)
Hành hành thuỳ thị tri tân khách
(Khách lại qua ai nhớ bên này?)
(Giang Đình cổ độ)
Phải chăng đây là tâm sự “hoài Lê” của ông.
Nhưng vị Hoàng giáp họ Bùi là người học rộng, trải đời, từng qua những thăng trầm biến cố của lịch sử và của riêng mình, nên luôn bình thản, ung dung tự tại:
Đăng lâm hà tất vấn nhân quả
Cửu thập cửu phong trung nhất thiên.
(Lên núi hỏi gì nhân với quả,
Chín mươi chín ngọn một bầu không)
(Uyên trừng danh tự – VHH dịch)
…Giang sắc hồn vô tẩy nhữ ô.
Tạc dạ hàn sà thừa nguyệt quá,
Cựu du trùng hoạ Hán xuyên đồ.
(Tai không rửa bẩn, nước nguồn trong)(6)
Lướt bè trên nguyệt đêm qua lạnh,
Vẽ lại Ngân hà cảnh đẹp chung).
(Cô độc lâm lưu – VHH dịch)
Hơn nữa, ông Bùi lại là yêu thiên nhiên, sống gần gũi với thiên nhiên, đứng trước cảnh đẹp núi sông, ông luôn say mê, phấn chấn:
Bồi hồi cửu thập cửu phong thượng,
Khách tứ phiêu phiêu thái vũ hồng.
(Chín chín ngọn cao quanh quẩn dạo,
Lâng lâng trời biển nức lòng ai).
(Hồng Sơn liệt chướng – VHH dịch)
Thanh bình nhất khúc, thuyền huyền địch
Tùng thử càn khôn thuộc đại quan
(Thanh bình khúc sáo thuyền ai đó,
Trời biển thênh thênh đẹp lạ lùng).
(Đan Nhai quy phàm – VHH dịch).
Nhàn hội giang hồ chân lạc xứ,
Dục thần lão tẩu vấn “hành chàng”.
(Ấy chốn giang hồ vui gặp gỡ,
Cụ già, chuyện cổ hỏi càng vui).
(Song ngư hý thuỷ – VHH dịch)
Thanh quang nhất trục vô nhân mãi,
Lưu tá thi đàn thực hứng xa.
(Bức tranh phong cảnh ai mua nổi,
Cảm hứng tha hồ thi khách vay).
(Hoa Phẩm thắng triền – VHH dịch)
Chùm thơ “bát cảnh” của ông phát tiết ra từ cảm hứng mạnh mẽ này./.
Thái Kim Đỉnh
(1). Bùi Công, tức Bùi Dương Lịch (1757 – 1828) quê làng Yên Hội, xã Việt Yên, huyện La Sơn, đỗ Hoàng giáp, làm quan dưới ba triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn, là nhà sư phạm, nhà trước tác có tiếng tăm.
(2). Theo Võ Hồng Huy, trong sách Non nước Hồng Lam – Hà Tĩnh – 1995.
(3). Nguyễn Hành (1771 – 1824) nhà thơ xuất sắc, cháu gọi Nguyễn Du bằng chú ruột, quê xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân.
(4). Bản dịch của Võ Hồng Huy
(5). Giang Đình là ngôi nhà (thường một gian, có mái, không vách) nơi chờ đợi, đón người nào đó. Nơi đám rước, đám tang dừng lại giữa độ đường để mở yến tiệc hay tế lễ cũng gọi là giang đình. Trong phần chữ Hán cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du. VHH. 1965, viết (Đình bên sông, trên sông) có lẽ là sai.
(6). Hứa Do là ẩn sĩ, được vua Nghiêu sai sứ đến mời ra để truyền ngôi, cho là mình đã nghe lời nói bẩn, bè xuống sông rửa tai. Bạn ông là Sào Phủ đang cho trâu tắm, biết chuyện, liền dắt trâu lên phía trên dòng nước rửa tai trâu, vì cho là trâu đã có nước bẩn vào trong tai.
