BOX: “Hàng năm, tổng số ngoại tệ chuyển về Cương Gián lên tới 40 – 50 tỷ đồng. Đến đầu tháng 11/2005, toàn xã có hơn 1.700 người lao động đang ở nước ngoài (đã hơn 4.000 lượt người XKLĐ). Có gia đình 24 người (con, cháu, dâu, rể) đi Hàn Quốc. Thu ngân sách năm ngoái đạt 3,9 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng KT bình quân hàng năm đạt 15%. Xuất hiện nhiều tỷ phú. Từ nghèo khổ, Cương Gián vươn mình trở thành xã Anh hùng thời kỳ đổi mới”.
Bạn cũ, trường xưa
Cuối năm, chúng tôi lại họp lớp. Hơn 20 năm trước là đám con nít, bây giờ đã lớn thật rồi. Nhương, Lương, Tường, Lân…đều đã lập gia đình, con cái đề huề, nhà cao cửa rộng. Mừng cho bạn cũ thoát nghèo, nhờ đi lao động ở nước ngoài mà sớm trở nên giàu có. Nhiều người tích góp được hàng trăm triệu đồng, thậm chí tiền tỷ cầm trong tay.

Cấp I, cấp II trường làng, suốt 7 năm liền tôi làm Lớp trưởng. Cái danh đứng đầu lớp nghe có vẻ “oách” nhưng kỳ thực chẳng ra gì. Nhiều hôm, tôi hô hào đám bạn trai bỏ học ra sông tắm, để sáng hôm sau kiểu gì cũng bị cô giáo Chủ nhiệm xách tai. Bữa đẹp trời, chúng tôi vừa đợi cô giáo đến lớp vừa khấn: “lạy trời, hôm nay cô giáo bị ốm không đến lớp”. Y như rằng, lát sau cô dạy văn lên thông báo: “Hôm nay cô ốm, không đến lớp được, cho các em nghỉ học”. Chúng tôi nhảy cẫng lên reo hò ầm ĩ, quên cả việc đi thăm cô. Quá sướng. Ra về, lớp xếp thành 2 hàng dọc, một bên Nam một bên Nữ. Bên nào đứng thẳng hàng tôi cho về trước. Nếu cho hàng Nữ ra về trước, lũ bạn trai sẽ nhìn “Lớp trưởng” hằn học. Có bữa bọn con trai hò nhau đánh hội đồng, lớp trưởng xách dép chạy te tua.
Làm Lớp trưởng vừa khổ vừa mệt, sang năm cuối cấp II tôi đề xuất: “Tao không mần Lớp trưởng nữa, đứa mô mần, xung phong ?”. Tôi nhìn quanh lớp, chẳng có ma nào giơ tay lên. Cuối giờ học, tôi gặp cô giáo Chủ nhiệm xin “từ chức”, cô vặn hỏi tôi nguyên nhân, khuyên nên làm nốt năm cuối cùng. Tôi thở dài. “Mần Lớp trưởng khổ lắm , cô ạ”. Đành vậy. Tuần sau lớp đưa ra bầu “Lớp trưởng mới”. Tôi kiến nghị: “Cả lớp nên để cho bạn Tuấn mần Lớp trưởng”. “Ai đồng ý, giơ tay !”. Nhiều cánh tay giơ lên. Thế là xong, trút được “một gánh nặng”. Nhẹ cả người.

Thấm thoắt hơn 20 năm trôi qua.
Họp lớp, râm ran chuyện ngày xưa. Nhìn quanh, nhiều bạn gái đã to bụng. Lại đẻ nữa rồi. Bạn gái cùng lớp năm ấy, ơn trời, chẳng mấy cô ế. Thậm chí béo và xinh hơn xưa nhiều. Cuộc sống no ấm, tiền rủng rỉnh, da dẻ hồng hào và môi mắt xinh tươi. Chồng cô này đi xuất khẩu lao động đã 10 năm; chồng cô kia mỗi tháng gửi về 5 – 7 “vé”. Cứ gọi là vui như tết. Có đứa đi Hàn Quốc, thỉnh thoảng lại gửi về cho lớp một vài trăm đô tiêu vặt, làm quĩ lớp. Điện thoại từ nơi xa lơ xa lắc về Cương Gián hỏi thăm nhau, thủng thẳng nói chuyện cả tiếng đồng hồ không ngại tốn tiền. “Mi nói nhiều rứa mà không sợ tốn tiền à ?”. Cười. “Nói thoải mái đi, đây dùng cạc. Hết cạc ni thay cạc khác lo chi”. Chắc giờ phút đó bạn tôi đang thò tay vào túi quần, nghĩ ngợi: “Đồ lẩn thẩn. Điện thoại có chi là ghê gớm đâu”. Trưởng thành rồi có khác. Ăn nói cũng có khác. Tự tin hơn. Lẫm liệt hơn.

Hôm trước Lân gọi từ Nhật về cho tôi. “Tau sắp lấy vợ, mi ạ”. “Mi lấy ai ?. Ai lấy mi ?”. Tôi đùa. “Vợ tau cùng quê Cương Gián”. “Con nhà ai ?”. “Con nhà ai răng mi biết được”. Thôi cùng quê là ổn rồi. Cùng quê cùng làng dễ cảm thông, dễ thương nhau hơn. 12 năm, Lân học cùng tôi. Hai đứa hiểu nhau từ A đến Z. Những đêm đông bạn và tôi quấn chăn co quắp run rẩy vì lạnh. Những cơn đói se sắt, triền miên. Chia nhau bát khoai xéo buổi sáng. Nhường nhau con cá khô, quả cà. Lân đã 3 lần “xuất ngoại”. Có lần nên nỗi. Có lần hoà vốn. Nhưng tóm lại vẫn khá hơn bám biển quê nhà. Long Tam, bạn cùng xóm Cầu Đá với tôi đi Hàn về, mua được ô tô vận tải. Trương Văn Tường xóm Ngư Tỉnh, sau chuyến xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc về mua đất xây nhà cưới vợ. Mở quán cà phê nhạc sống, kinh doanh. Vừa rồi Tường đã bay sang Nhật. Tiến (thôn Nam Mới) ở Hàn gần 10 năm nay. Người làng bảo đi Hàn Quốc, chí ít cũng dăm bảy “vé”/ tháng. 10 năm, tiền kể ra cũng nhiều.
Rời con thuyền chòng chành, họ bước lên máy bay.
50 tỷ hay 80 tỷ đồng/năm ?
Tôi cầm trên tay “báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ Cương Gián trình ĐH Đảng bộ xã lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2005 – 2010”. Những số liệu giật mình:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 15 %. Cơ cấu KT chuyển dịch mạnh kể cả nội lực và thu nhập từ nguồn XKLĐ. Xuất khẩu lao động đang tiếp tục giữ vững, là mũi nhọn kinh tế của toàn xã; là mục tiêu xoá đói giảm nghèo hiệu quả nhất. Hàng năm, có 200 đến 250 người sang lao động tại các nước: Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia…dù lao động trên bờ hay đánh cá đều có thu nhập ổn định. Hiện nay, toàn xã đang có 1.700 người lao động ở nước ngoàI; đã có hơn 4.000 lượt LĐ tham gia. Ngoại tệ chuyển về địa phương hàng năm lên tới 40 – 50 tỷ đồng, chiếm 60% giá trị GDP. Thời gian gần đây, Cương Gián đầu tư 17 tỷ đồng XDCB (trong đó nguồn vốn của xã và dân đóng góp 9 tỷ đồng), xây 8km kênh mương bê tông; hàng chục km đường nhựa; làm mới 38 phòng học cao tầng; trụ sở xã, trạm y tế, đều là nhà 2 tầng; 14/15 xóm có nhà văn hoá; 820 máy điện thoại (bình quân 7 máy/ 100 dân); toàn xã có hơn 1.000 xe máy; 80% số hộ có tivi và phương tiên nghe nhìn. Năm 2005 thu ngân sách được gần 4 tỷ đồng; Hiện có 345 học sinh đang học cấp III; mỗi năm có khoảng 20 em thi đậu ĐH-CĐ-THCN; quĩ khuyến học có lúc quyên góp được trên 30 triệu đồng. Làm mới 38 nhà cho hộ nghèo, hộ chính sách. Tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh, hiện Cương Gián không còn hộ đói; hộ nghèo từ 36% nay giảm xuống chỉ còn 11,3% (phấn đấu hết năm 2005 chỉ còn 9%); hộ khá và giàu tăng từ 5% lên đến 40%. Hộ có nhà cao tầng chiếm 38%. Có gia đình 24 người con, cháu, dâu, rể đang lao động ở nước ngoài.
Những người trực tiếp lao động ở quê vẫn tiếp tục “bám biển” “bám đất”.
Mục tiêu đến năm 2010, xã Cương Gián quyết tâm đưa nhịp độ tăng trưởng KT bình quân hàng năm lên 16 – 17%; ngoại tệ chuyển từ nước ngoài về xã đạt 80 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người 12 – 13 triệu đồng/ năm. Tổng lương thực: 2.000 tấn; khai thác 1.000 tấn hải sản.
Cương Gián vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu xã Anh hùng thời kỳ đổi mới.
Ngạc nhiên Làng
Những khóm tre xanh tươi biến mất. Bê tông hoá ồ ạt. Làng quê thiếu bóng tre, thiếu một hình ảnh gần gũi thân thương. Con đường làng chang chang nắng tung mờ cát bụi bây giờ nhuốm màu thâm trầm của nhựa; màu trắng nhạt của bê tông.
Vài năm trước, Cương Gián lên cơn sốt đất. Người trong làng đi lùng mua đất, giá đất bỗng nhiên tăng vọt. Đắt giá nhất là khu đất bám mặt đường liên xã, một mét chiều ngang lên tới 15 – 20 triệu đồng, vẫn tranh mua tranh bán. Những thửa đất nằm trong ngõ xóm bấy lâu bị bỏ quên, nay rùng rùng chuyển động. Dân mua đất là những người đi XKLĐ từ Hàn Quốc về, nhiều người tiền tỷ cầm trong tay. Họ tậu đất, xây nhà mới.
Làng đổi thay. Hàng trăm ngôi nhà khang trang thay thế cho lều tranh, mái ngói cũ nát. Nhà chóp nhọn nhô cao; mái xanh đỏ tím vàng thò vào thụt ra; biệt thự quét sơn nổi bật. Lũ lượt kẻ đi, người về. Đám trai làng hoàn thành hợp đồng lao động từ bên kia trở về quê, trong lúc nhàn rỗi thủng thẳng ra biển ngắm sóng; tụ tập nhau ngồi uống cà phê đầu làng tán gẫu. Năm trước nghèo rớt mồng tơi, kiếm ăn lần hồi, đến chiếc xe đạp cà tàng cũng không có mà đi; nay xe máy rất sang bấm còi inh ỏi. Nhiều người sắm điện thoại di động, oách lắm. Chơi là chính. Sóng điện thoại ở Cương Gián rất kém.
Tôi đi trên đường làng, lẩn thẩn nhớ ngày xưa. “Nhờ XKLĐ mà quê hương đổi mới, thoát nghèo. Chứ bám biển bám đồng mãi cũng khổ”, bạn tôi nói. Chục năm trước ngư dân Cương Gián đánh bắt được con cá to, không dám bỏ vào nồi. Nhịn ăn, mang ra chợ bán kiếm tiền đong gạo. Nay cuộc sống khá lên rồi, cái ăn nếp nghĩ cũng khác xưa. Sản phẩm của biển đông, món nào ngon, hầu hết dồn về Cương Gián. Tivi, tủ lạnh, bếp ga, xe máy, điện thoại, chuyện nhỏ như con thỏ.
Người đi xa vài năm trở lại quê, khéo lạc đường vào ngõ nhà mình. Đổi thay chóng mặt. Trụ sở làm việc của Đảng uỷ, HĐND, UBND xã: hai tầng. Trạm y tế xã: hai tầng. Trường tiểu học, cấp 2: hai tầng. Nhà tầng nối tiếp nhà tầng. Nhiều biệt thự của dân to đẹp hơn trụ sở Uỷ ban xã. Điện lưới kéo về đã lâu, thắp sáng cho toàn dân. Làng nghèo đứng dậy, khoác lên mình tấm áo mới, mang dáng dấp của một Thị tứ, Thị trấn vùng biển.
Trong đổi thay, tôi vẫn gặp những gương mặt mộc mạc, chân tình.
Quang Long

