Người ta chết đi vĩnh viễn chìm vào bóng đêm của quá khứ mông lung, huyền ảo, có hồn ma bóng quỷ, có những gì ở thế giới bên kia mà con người không biết hết được. Người tin điều đó thì gọi là thế giới tâm linh. Người không tin thì cho là mê tín dị đoan..Người ta thở dài, tiếc nuối dĩ vãng đã qua, như hình ảnh những con thuyền buồm nâu lộng gió trên mặt biển phẳng lỳ mùa gió nam, những trưa hè xuống rào tắm mát trên con sông quê hương….Khi tuổi đã xế chiều người ta bắt đầu nghĩ đến xây nhà thờ họ, sao gia phả tìm nguồn gốc tổ tông. Ở đây tôi muốn đem tới độc giả mộ số hiểu biết về các dòng họ ở xã Cương Gián ta. Ở xã ta có rất nhiều họ : Nguyễn, Lê , Hoàng , Đặng , Trần, Dương , Hồ, Trương, Phan, Chu, Đinh, Phạm, Đỗ, Kiều…..Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì vùng ven núi xã ta còn có người Mường sinh sống. Từ Chọ hang, Chọ Trúc là ngôn ngữ của người Mường.
Họ Hồ : Từ nửa cuối Hậu Lê, một nhánh họ Hồ Quỳnh Lưu lập làng ở vùng Cương Gián Nghi Xuân Hà Tĩnh Lúc bấy giờ thiên nhiên quá khốc liệt, bờ biển vẫn còn nằm sát rào Mỹ Dương, rào Mỹ Dương chảy sát truông Cồn mô, cuộc sống luôn bị đe dọa khi bão táp lụt lội, phần lớn người trong xã phải bỏ đất tìm nơi khác định cư. Một gia đình họ Hồ như vậy theo ông Đậu Quận Công đến vùng Lòi Nhã, xã Thất Thôn dựng nhà sửa cửa, khai phá đất đai, lập thành một trong bảy thôn của Đậu Quận Công (vùng đất ngày trước đã có người thiểu số sinh sống. Người ta gọi họ là người Mường. Những địa danh còn lại như Bến Mường, Động Mường… nói lên điều đó. Khi người Kinh tiến vào, người Mường bỏ đi .
Hậu duệ họ Hồ có ông Hồ Yên Định, làm quan đến hàm tứ phẩm (không qua thi cử) mới đổi thôn thành Lai Nhã, xã Thất Thôn thành Thái Nhã. Con cháu li tổ phải lấy chữ Nhã đệm vào để luôn nhắc nhớ tới quê hương. Khi vua Quang Trung ra Bắc diệt quân Thanh, họ có cụ Hồ Hữu Tiềm đầu quân giết giặc và hi sinh tại Thăng Long (mùng 5 tháng Giêng âm lịch là ngày giỗ). Nhà thờ họ Hồ được cất lên thời đó. Khi giác móng và lấy hướng, ông thầy địa lý người Tàu phán rằng: “Thuỷ đáo từ đường. Hồ gia vi vương”. Ông ta bảo đây là thế đất “Phượng Hoàng ẩm thuỷ”. Thời bấy giờ sông Rộ còn ngoằn nghèo chảy bên phía núi xa, cách nhà thờ chừng non cây số. Biết khi nào nước sông chảy đến cho chim Phượng Hoàng uống?
Trước Cách mạng tháng Tám, họ Hồ Lai Nhã cũng mới chỉ vài chục gia đình nhưng đã có bốn cử nhân và khá nhiều tú tài. Có người khá nổi tiếng như cụ Giải nguyên Hồ Sĩ Tạo. Cụ Hồ Sĩ Tạo tự Tiểu Khê, sinh năm 1834 mất năm 1907, là người tài hoa nổi tiếng cả vùng. Theo gia phả nói thì cụ thuộc phe chủ chiến, chủ trương đánh Pháp tới cùng, nên bị vua Tự Đức đánh hỏng (?).
Trong cuộc đời làm quan, dạy học, giao du với bạn bè khắp vùng, ông Tạo đã có quan hệ gắn bó với năm người phụ nữ.
Người phụ nữ thứ nhất chính là người vợ cả của cụ được gia đình cưới cho ngày còn trẻ. Bà người họ Phan ở xã Xuân Trường (Thanh Chương) và đã cho ông Tạo hai người con trai trưởng thành.
Người phụ nữ thứ hai là bà Hà Thị Hy, còn gọi là cô Đèn, quê ở làng Sài, Nam Đàn. Ông Tạo nổi tiếng khẩu khí, đam mê hát phường vải, ứng đối nhanh và giỏi. Bà Hy là người hát hay, giọng tốt và rất đỗi xinh đẹp. Tài tử gặp giai nhân cũng ví như cá gặp nước, rồng gặp mây. Khi họ quen biết nhau, tuy ông Tạo ít tuổi hơn nhưng đã có vợ và đang dạy học trong nhà họ Hà. Vì quá tài hoa nên mãi năm cô Đèn ba mươi vẫn chưa có đám nào lọt vào mắt xanh… Trai làng không với tới nên họ phong toả, hình thành thế bao vây, không cho con trai nơi khác đến. Ông Tạo yêu cô Đèn trước khi có vợ. Bà Hy có thai, ông Tạo về xin cha mẹ được cưới, nhưng gia đình không đồng ý vì đã dạm hỏi đám khác. Cụ Hà Văn Cẩn đành ngậm ngùi gả bà Hy cho ông Nguyễn Sinh Nhậm, một ông già lụ khụ.
Họ Hồ đã sinh ra nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng như Hồ Quý Ly, Hồ Hưng Dật, Hồ Hán Thương, Thời hiện đại có nhiều nhà cách mạng nổi tiếng như ……, Hồ Tùng Mậu, Hồ Đức Việt…….Họ Hồ Cương Gián chúng ta rất tự hào là địa danh có nguồn gốc sinh ra nhiều nhân vật lịch sử.
THẢO ĐẶNG
