Ra về chào bạn chào thầy
Chào bàn ghế với hàng cây sân trường.
Từ những câu thơ đầu tiên viết chia tay các bạn vào hè năm lớp ba, tôi mải miết làm thơ cho đến bây giờ. Hễ cứ đi đâu và lúc nào có điều kiện là tôi lại làm thơ. Điều mà tôi mong ước là thơ tôi ghi lại những cái tôi cần ghi để sau này chúng trở thành những dấu mốc trên đường đời,một cuộc đời mà tôi trù liệu trước là sẽ nhuốm đầy sự khổ đau,bươn chải và vinh quang.Thơ trước hết là để chia sẻ.Tự chia sẻ với mình,chia sẻ với người thân và hơn thế nữa chia sẻ với đọc giả khi được đăng.Nhưng với tôi,qua thơ để tự giải bày với mình,tâm sự với người thân là nhu cầu cốt yếu hơn cả. Cái ý định này tôi cũng đã viết thành thơ:
Những mộng ảo qua đi
Những mối tình đọng lại
Trong lòng ta nếu có gì khắc khoải
Biết cùng ai tâm sự,nếu không thơ?
Tôi ra đời tại làng Cương gián,huyện Nghi xuân,Hà tĩnh vào một ngày cuối xuân năm 1947.Hai năm sau,cha tôi ngã bệnh,qua đời. Còn quá bé để hiểu ra sự bất hạnh của một đứa trẻ mồ côi,tôi lớn lên như một con gà nuôi thả.Cũng may,khi mẹ tôi đi bước nữa,gặp được thầy tôi (tôi và anh trai tôi gọi bố giượng như thế vì vừa để thay cha và một phần cũng do nghề nghiệp của ông; về sau các em của tôi cũng đều gọi ông như thế.) là một người thật sự thương yêu tôi.Tuy vậy với đồng lương giáo viên cấp một,nhất lại là khi mẹ tôi sinh thêm một,hai,…rồi năm đứa con nữa, ông không thể chu cấp cho tôi ăn học đàng hoàng.Tôi phải tự làm lấy mà ăn,mà học.Anh trai tôi,trong một bài thơ viết tặng tôi khi tôi rời nhà đi du học có đoạn:
…“Rửa đọi,quét nhà chăm nuôi em nhỏ
Vẫn đến lớp không bao giờ chậm trễ
Và mỗi hè về vẫn nhận giấy khen”…
Cảm xúc thơ ca đã đến với tôi từ rất sớm.Dạo ấy ở quê tôi,khi mặt trời chưa ngủ dậy,người ta đã nghe tiếng trẻ học bài rào rào từ nhà này qua nhà khác.Thường thì đó là tiếng đọc thuộc lòng các bài thơ được in trong sách giáo khoa.Bọn trẻ con chúng tôi đứa nào cũng đọc thật to để khỏi bị lấn át và nhờ vậy rất mau thuộc. Bài thơ tôi học thuộc đầu tiên là bài \”Lời chim Khuyên\” do thầy Bích dạy chúng tôi ở lớp vỡ lòng.Tới tận bây giờ tôi vẫn nhớ như in cái động tác thầy gõ cạch một cái lên bảng sau khi đọc từng câu thơ. \”Trên cành Hoàng lan-Chim Khuyên xây tổ-Cho đôi con nhỏ-Xinh xỉnh xình xinh-Buổi sáng trời xanh-Gió rung cành lá-Đứng trên rìa tổ-Chim cúi hót chơi-Anh học trò ơi-Nghe lời tôi nhé-Nhà tôi vui vẻ-Đừng rình phá đi-Ngày mai ngày kia-Con tôi khôn lớn-Chúng bay chúng lượn-Chúng hát anh nghe\”.Rồi vào cấp một,thêm nhiều bài thơ hay tỷ như bài: \”Ngày ngày đi đến trường-Em theo con đường làng-Hai bên cỏ xanh mướt-Giữa đất đỏ mịn màng…\”.Những bài học thuộc lòng như thế vừa hình thành nhân cách cho chúng tôi,vữa đưa vào trong trí não trẻ thơ cách ghép vần ghép nhạc.Điều đó vô cùng quan trọng cho quá trình học luật các thể loại thơ sau này.
Hồi học cấp hai ,tôi rất khấn khích trong các tiết giảng của thầy Bình.Thầy là hiệu trưởng,vừa là giáo viên Văn của chúng tôi. Với hai câu \”Mẹ ơi quả bí còn non-Cầm dao mà cắt lòng con sao đành\”,thầy đã đưa vào trong trái tim ,con óc của học trò sự cảm nhận về tính nhân văn,lòng đôn hậu của một con người.Thầy cũng phân tích cho chúng tôi hiểu tính nghệ thuật khi sử dụng luật trắc bằng trong thơ lục bát.
Một điều ghi dấu ấn đậm trong tôi là những bài vè truyền miệng mà dân làng thường hát.Những bài vè như vậy đôi khi chưa được chải chuốt từ ngữ nhưng thật lắng động và truyền cảm.Bài \”Ra về Én bắc Nhạn đông\” sau đây sao mà in đậm hình ảnh làng Cương gián quê tôi đến thế:
\”Ra về Én bắc Nhạn đông
Hai hàng châu lệ ròng ròng nhỏ rơi
Em nghe tiếng bạn cười
Trong lòng sầu bát ngát
Em nghe tiếng bạn hát
Nước mắt em tuôn rơi
Ai cầm chịch làng chơi
Chơi về miền đá cảnh
Em bỏ chăn đơn gối lạnh
Ai trêu cợt em không cười
Mặt thì héo không tươi
Ai chào em không muốn nói
Em bỏ tóc tiên không bối
Bỏ gương lược không dùng
Đêm năm canh cùng
Chim kêu, gà gáy
Nom ra ngoài ấy
Đông đã rạng tờ mờ
Biển đã lặng như tờ
Ta ra ngồi bờ biển
Ta gửi thư về cho Én
Cho được chín khúc nguyện cầu
Ước cho được con cá sang sông
Cá say sưa vì nước
Cá lờ đờ vì nước
Ước gì cho được
Ước khi mô em vợ,anh chồng
Để ta sang với bạn một dòng
Kẻ mà ra về Én bắc Nhạn đông.\”
Các bài vè như thế này ở quê tôi nhiều lắm.Có bài nói chung chung,có bài nói về một việc cụ thể,một con người cụ thể.Người tra thường hát khi ru con,hát khi giao lưu bè bạn,hát để chế diễu một điều chướng tai,gai mắt.Tôi thuộc nhiều bài vè và thích hát chúng.Đó cũng là cách để tôi tự rèn luyện trong quá trình học làm thơ.Thực ra trong các bài vè này, đôi khi người ta dùng các từ khó hiểu; có thể cũng vì \”tam sao,thất bản\”. Nhưng đã là truyền miệng thì cứ có sao ghi vậy, mong bạn đọc thông cảm,chớ có than phiền. Dù gì đi nữa,với tôi,các bài vè truyền miệng cũng đã giúp tôi lớn lên về mọi mặt.Quê hương trong tôi không thể thiếu các bài vè.
Con đường khởi nghiệp làm thơ còn gắn liền với biết bao kỷ niệm chốn quê nhà.Từ một tiếng gà cục tác,một tiếng ru Kiều,tiếng lá xào xạc…:
Ồ sao cái nắng chừng xuân
Gởi thương,gởi nhớ muôn phần trong em
Xa nhà lâu vẫn không quên
Cái âm điệu nhớ thân quen quê nhà
Tiếng gà nhảy ổ xa xa
Cục ta cục tác cục ta đều đều.
Tiếng ai quá đỗi thương yêu
Ru em mà tựa như Kiều lạy em
Và nghe ríu rít tiếng chim
Xạc xào tiếng lá cựa mình trên cây
Trời đong cho nắng quá đầy
Chen nhau,nắng cũng loay hoay cựa mình
Em nghe trong những âm thanh
Như là tiếng nhớ trong tình của anh.
Đến một lần tựa cửa trông ra:
Có một thời để thương
Có một thời để nhớ
Một thời từng tựa cửa
Dõi bóng người đi qua….
Để đến nỗi trong tôi cứ bâng khuâng cả cuộc đời và lâu lâu lại đọng thành thơ:
Bâng khuâng tôi nhớ cô hàng xóm
Từng đã giúp tôi dệt ý thơ.
Cũng không thể không nói đến cuộc sống của cá nhân tôi cũng như bao bạn bè khác cùng trang lứa phải vật lộn với biết bao thử thách đã nhen nhóm thành thơ. Khi tôi đã có thể tự lo được cho mình ăn học thì việc học hành của các em tôi cũng đòi hỏi phải chi tiền.Để góp phần cùng thầy mẹ lo cho các em ăn học,vào ba tháng hè tôi phải lao động cực nhọc. Bây giờ thời đại văn minh,người ta mới quan tâm đến chuyện lao động vị thành niên,chứ hồi đó làm được gì để kiếm sống là cứ phải làm. Đúng như các cụ từng nói: “Trời sinh voi,trời sinh cỏ”.Thời đó ở biển, ruốc nhiều lắm. Mỗi vụ hè tôi thường đi quệu ,tích lại được vài ba chum ruốc mặn mà ở nơi khác gọi là mắm tôm.Số ruốc này,khi hết vụ,mẹ tôi bán dần để lấy tiền nuôi các em tôi.Cái động lực kiếm tiền giúp thầy mẹ thúc đẩy tôi ghê lắm.Không dám so sánh với các bậc đàn anh,nhưng với số người ít tuổi,nghề đi quệu ít ai có thể bằng tôi.Biết đoán con nước,đoán luồng ruốc di chuyển,lại chăm bòn nên tôi thường bắt được nhiều ruốc hơn đồng bạn.Làm cật lực đến nỗi cứ sau mỗi vụ hè ,người tôi đen như cột nhà cháy ;vào năm học mới,bạn bè không còn nhận ra tôi nữa.May nhờ có lớp da thay đổi cũng nhanh,sau vài ba tháng hết vụ,lớp da cháy nắng bị tróc ra,nước da tôi trở lại bình thường.
Cái nghề đi quệu tuy có vất vả nhưng nghĩ lại cũng không đến nổi tồi.Ai đã từng gặp vùng ruốc dày,ngoắc đai quệu vào lưng,xoay tròn như điên rồi vác từng quệu ruốc đầy chạy lên bờ chất thành đống thì mới cảm nhận được niềm hạnh phúc của nghề đi quệu.Lại nữa, sau cả buổi dầm mình dưới nước biển mát lạnh giữa trời nắng chang chang, không tìm thấy ruốc,đành lên bờ,chui vào rừng phi lao,nằm ngửa mình trên cát lim dim ngủ trong tiếng gió vi vu.Cái cảm giác thư giãn dưới rừng phi lao tôi không bao giờ tìm lại được trong cuộc sống bộn bề đô thị sau này.Cái cảm giác đó giúp tâm hồn tôi bay bổng thành thơ.
TS. Hoàng Văn Huấn

Xom ngu tinh chung toi that tu hao co nhac si Xuan Dong, nha tho Hoang Van Huan.Tho cua Huan nhu co canh bay xa, doc tho anh ta thay am ap , thay quen quen cua mot tam hon dung di, dam da tinh que huong. Mong anh dang dan them nhung ang tho de doc gia thuong thuc. Cam on anh Huan.